|
Bản Pāli ngữ:
Bhadantācariya Buddhaghosa PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
[03] CHƯƠNG VI
KINH
CHÂU BÁU
1. Giờ đây đến phần Chú Giải Kinh Châu Báu, được bắt đầu với các từ “Bất Kỳ sanh linh nào” và Kinh được sắp xếp trong Tiểu tụng ngay sau Kinh Điềm Lành. Chính v́ thế sau khi đă khẳng định mục tiêu Kinh Châu Báu được gộp lại trong [Tiểu tụng] thế rồi:
Do ai công bố, khi nào, ở đâu và tại sao? Chúng ta thực hiện điều này để chứng tỏ – bằng cách nào ta có thể nhập vào ḍng nước sông, ao hồ [1] v.v... bằng cách đi qua một bến đáp hoàn toàn tinh tuyền – bằng cách nào hiểu được ư nghĩa của bài kinh này thông qua Nguồn Suối thanh tịnh. 2. Về điểm này [liên quan đến đoạn kệ đă đề cập đến ở trên], kinh Điềm Lành đă cho thấy điều này: đó chính là tự bảo vệ ḿnh và chống lại những lậu hoặc. Như vậy coi như là điều kiện để tránh không thực hiện điều bất thiện cũng như chú tâm vào việc thực hiện điều thiện. Tuy nhiên Kinh Châu Báu này hoàn thành được việc bảo vệ cho người khác [2] và chống lại những lậu hoặc được coi là điều kiện để những chúng sanh phi nhân (non-human beings) v.v... [không thể hiện diện được nữa] và đây là mục tiêu để xếp Kinh Châu Báu ở vị trí này. Chính v́ vậy để bắt đầu triển khai, là mục tiêu ta sắp xếp kinh này tại đây. 3. Giờ đây, liên quan đến [câu hỏi] Do ai công bố, khi nào ở đâu và v́ lư do ǵ? (§1), ta có thể đặt câu hỏi này theo cách sau đây: Ai đă công bố Kinh này? Khi nào, ở đâu và lư do tại sao người đó lại công bố? - Kinh được chính Đức Thế Tôn công bố. Chẳng phải một đệ tử nào của ngài, v.v... và vào thời điểm đó [158] tại Thành phố Vesālī đang bị bệnh dịch hoành hành v.v... và chính những người Licchavi đă yêu cầu Đức Thế Tôn, cũng như họ đă thỉnh Ngài từ thành Rājagaha tới thành Vesālī; và chính Ngài đă công bố Kinh Châu Báu tại Vesālī nhằm mục đích chống lại đại dịch đó. Đây là câu trả lời tóm tắt cho những câu hỏi nêu trên. Tuy nhiên, khi đi vào chi tiết các Vị Trưởng lăo đă chú giải đoạn kệ đầu tiên bằng cách kể về [nguồn gốc] thành Vesālī như sau: 4. Giờ đây tập chú giải được triển khai như sau: H́nh như vị hoàng hậu nhiếp chính của nhà vua thành Ba La Nại (Bārāṇasī) đă có mang hài nhi trong ḷng bà. Khi Hoàng Hậu biết được điều này, nàng liền thông báo cho nhà vua, và Hoàng Thượng đă cho tổ chức Nghi Thức “Bảo Toàn Hoàng Tử” cho Hoàng Hậu. Để bảo bệ Hoàng tử cho tốt nhờ nghi thức này, nàng đă dọn vào cư trú tại cung điện dành riêng cho những cung phi sắp sửa làm mẹ. Khi đến ngày khai hoa nở nhụy, Hoàng tử đă được sanh ra. Giờ đây việc khởi sanh của đứa trẻ diễn ra vào buổi sáng là điềm may công đức, và nàng là một trong số những người đó. Chính v́ thế vào buổi sáng nàng đă hạ sanh đứa con của ḿnh, [nhưng điều nàng sanh ra] lại chỉ là một cục thịt giống như một cục sữa đặc hay giống như những loài hoa bybiscus. V́ lẽ đó nàng suy nghĩ “Họ có thể chỉ trích ta trước nhà vua, nói rằng các hoàng hậu khác đă sanh cho nhà vua những đứa bé giống như những tượng vàng, nhưng ta đường đường chính chính là hoàng hậu nhiếp chính lại chỉ hạ sanh cho nhà vua một cục thịt”. Suy tính cách thoát khỏi điều công kích này, nàng liền đặt cục thịt vào một chiếc b́nh, và cho đậy lại rồi gắn lại với dấu triện hoàng gia và nàng cho thả trôi trên sông Hằng. Các vị Chư thiên đă thu xếp bảo vệ “Điều con người ta đă vứt bỏ ”. Và sau khi đă viết bằng thần sa trên chiếc nhăn bằng vàng ḍng chữ “Hậu Duệ của hoàng hậu nhiếp chính nhà vua thành Benares” Ba la nại, các Chư thiên này đă cột vào [chiếc b́nh]. Sau đó chiếc b́nh đă trôi trên ḍng sông Hằng mà không gặp bất kỳ hiểm nguy sóng gió nào. 5. Vào lúc đó có một vị ẩn sĩ kia đang tá túc trong một gia đ́nh chủ trang trại chăn nuôi ḅ ngay bên bờ sông Hằng, vào buổi sáng sớm, Ngài đi xuống sông Hằng sau khi nh́n thấy chiếc b́nh đang trôi lại về phía ḿnh, ngài đă vớt lên, ngắm nh́n vật nổi lềnh bềnh. Rồi ngài nh́n thấy nhăn hiệu có ghi ḍng chữ và có dấu triện hoàng gia. Ngài mở b́nh ra và nh́n thấy trong đó có một cục thịt.[159] Khi ngài nh́n thấy như vậy, [ngài nghĩ] “Rất có thể đây là một phôi bào c̣n sống, chính v́ thế đă không có mùi hôi thối của cục thịt thối rữa bốc lên”. Và chính v́ thế ngài liền đem chiếc b́nh đó vào trong chiếc cḥi khổ hạnh của ngài và cất vào một nơi sạch sẽ. Sau nửa tháng liền xuất hiện hai cục thịt. Khi vị Ẩn Sĩ nh́n thấy như vậy ngài liền cất chiếc b́nh vào một chỗ tốt hơn và sau hai tuần lễ có năm chỗ xưng lên biến thành cánh tay, chân và đầu xuất hiện trên mỗi cục thịt. Thế rồi sau mười lăm ngày nữa trôi qua một miếng thịt trở thành một bé trai trông giống như một bức tượng vàng và cục thịt thứ hai lại biến thành một bé gái. T́nh yêu phụ tử nổi lên trong ḷng vị ẩn sĩ thế rồi, sữa chảy ra từ ngón tay cái của ngài. Sau đó, khi ngài đă có được bữa ăn cơm sữa gạo ngọt, ngài ăn cơm và rải sữa đó vào miệng hai đứa nhỏ. Bất kỳ điều ǵ vào bụng hai đứa nhỏ đều nh́n thấy rơ như đựng trong một chiếc b́nh pha lê, chính v́ chúng chẳng có da (licchavi) – Tuy nhiên, một số người khác lại nói da của hai đứa nhỏ bám chặt (līnā chavi) vào nhau như thể được khâu dính lại – Dù sao đi nữa hai đứa nhỏ được biết đến với tên là Licchavi hoặc do bởi chúng không có làn da hay do bởi làn da chúng bám chặt vào nhau (līnacchavitā). 6. Với công việc nuôi nấng hai đứa trẻ con, công việc vị ẩn sĩ đi vào làng khất thực trở nên chậm trễ và khi ngài quay trở về nhà trở lại th́ trời đă tối. Khi những người chăn ḅ nghe biết chuyện nhà ẩn sĩ quan tâm [đến trẻ con] họ kháo nhau: “Thưa ngài ẩn sĩ đáng kính, công việc nuôi nấng con nít là một trở ngại cho những ai đă xuất gia [khỏi cuộc sống gia đ́nh.] Hăy trao cho chúng tôi hai đứa nhỏ đó đi, chúng tôi sẽ nuôi dạy chúng tốt. Xin ngài hăy thực hiện công việc tu tŕ của ngài mà thôi.” Vị ẩn sĩ đồng ư, chính v́ thế ngày hôm sau những người chăn ḅ sửa sang lại đường xá. Và sau khi đă rải hoa khắp trên con đường vừa được sửa sang đó họ c̣n giăng cờ xí và biểu ngữ, họ kéo đến nơi ở khổ hạnh của vị ẩn sĩ chơi các nhạc cụ hết sức vui nhộn. Vị Ẩn sĩ nói với họ. “ Hai đứa nhỏ có phước rất lớn hăy giáo dục chúng cho cẩn thận. Và khi chúng đă được giáo dục tử tế hăy để cho hai đứa kết hôn với nhau theo hai nghi thức. [3] Rồi hăy dâng một lễ vật với năm sản phẩm làm từ ḅ cho nhà vua để [nhà vua] ban cho hai đứa một vùng đất rộng. Hăy cho xây một thành phố trên vùng đất đó và xức dầu cho đứa bé trai tại đó. Nói xong ngài ẩn sĩ giao hai đứa nhỏ cho họ. 7. Họ [160] đồng ư, và chính v́ thế họ đă mang hai đứa bé đi và chăm sóc cho chúng rất cẩn thận. Khi hai đứa nhỏ đă lớn lên, chúng chơi với những đứa trẻ con những người chăn ḅ và trong quá tŕnh chúng căi cọ lẫn nhau chúng đă tát và đá bọn trẻ con những người chăn ḅ. Những đứa trẻ con những người chăn ḅ ̣a lên khóc và khi được cha mẹ chúng hỏi “tại sao các con lại khóc vậy?” chúng nói “Hai đứa trẻ mồ côi ngài ẩn sĩ đă nuôi đánh chúng con nhiều lắm.” Thế rồi cha mẹ chúng nói. “Hai đứa trẻ này hay bắt nạt và đánh những đứa khác, chúng không được kết bạn với bọn trẻ con của chúng ta nữa. Họ đă tách hai đứa ra khỏi đám trẻ. (vajjitabba)”, và sau đó h́nh như vùng đất rộng ba trăm dậm được đặt tên là Vajjī (có nghĩa là” Tách ra khỏi”). [chính v́ thế mà tại sao các cư dân sống trên những phần đất đó được gọi là những người Vajjanas.] 8. Thế rồi những người chăn ḅ đă dâng một phần lễ vật cho nhà vua và chiếm quyền trên mảnh đất đó. Sau đó họ cho xây một thành phố trên miếng đất đó. Cậu con trai, hiện nay đă mười sáu tuổi, họ đă xức dầu phong vương cho cậu và họ đă cưới cho cậu nàng con gái. Và họ đă đồng ư với nhau là không có con gái nào được phép xuất khỏi thành phố đó. 9. Ngay từ lúc mới sống chung với nhau hai đứa trẻ sanh ra được một đứa con gái và một đứa con trai. Họ đă sanh đôi đến mười sáu lần như vậy. Thế rồi khi những đứa trẻ đă lớn lên và khi đă có đủ nơi cư trú để chứa đựng tài sản: nào là vườn tược, công viên, nơi cư trú và kẻ ăn người ở. Họ đă cho xây bức tường thành vây quanh ba ṿng thành phố. Mỗi ṿng có khoảng cách rộng khoảng độ nửa dậm. Chính v́ có sự nới rộng liên tục như vậy (vesali-katatta) mà thành phố được gọi là Vesālī. Đây chính là câu chuyện kể về thành phố Vesālī. [Nguồn Tài Liệu] 10. Vào lúc này khi Đức Thế Tôn xuất hiện trên [thế gian], thành Vesālī là một nơi rất phồn vinh thịnh vượng. Và đă có tới bảy trăm bảy mươi bảy ngàn các vị quan nhiếp chính sống tại đó, cũng có một số các vị phó nhiếp chính, các vị tướng lănh và lính canh với số lượng bằng từng ấy nữa. [161] v.v...theo như người ta kể lại, “Giờ đây vào dịp đó thành Vesālī rất phồn vinh thịnh vượng, phát triển tột bậc có rất đông người đến cư ngụ, có nguồn cung cấp lương thực dồi dào và có đến bảy trăm bảy mươi bảy ngàn ṭa lâu đài và bảy trăm bảy mươi bảy ngàn pḥng ở cao cấp và bảy trăm bảy mươi bảy ngàn công viên cộng với từng ấy ao hồ.” (Vin. i. 268). 11. Nhưng vào một dịp khác thành phố lại thiếu lương thực do phải trải qua hạn hán và mùa màng thất bát. Trước tiên những người nghèo phải chết và [xác của họ] được quẳng ra ngoài thành, do mùi hôi thối của các xác chết xông lên chẳng c̣n người nào dám đi vào thành phố các chúng sanh phi nhân được cơ hội đột nhập vào Thành phố. Sau đó, nhiều người khác nữa cũng phải chết. Sự kinh tởm quá lớn lao xảy đến khiến cho bệnh dịch “Hơi rắn” đă xuất hiện. [4] tàn phá biết bao nhiêu sanh linh. Thành phố Vesālī đă bị ba tai nạn ám ảnh đó là: sợ đói, sợ các chúng sanh phi nhân (non-human beings) và sợ bệnh dịch hoành hành. Thế nên các cư dân thành phố liền đến gặp vị quan nhiếp chính [đứng đầu] và thưa rằng: “Thưa Đại Vương, có ba tai nạn đă xuất hiện trong thành phố chúng ta, điều này xưa nay chưa từng xảy ra dưới bảy triều vua trước đó. Có lẽ giờ đây chúng xuất hiện là v́ do danh nghĩa của nhà vua đang có một số vấn đề bất chính diễn ra chăng?” Vị quan nhiếp chính liền tụ họp toàn bộ dân chúng lại nơi sảnh đường thành phố và ra lệnh cho họ điều tra xem danh nghĩa nhà vua có ǵ trục trặc không. Họ đă điều tra toàn bộ thân tộc hoàng gia, song chẳng phát hiện ra điều ǵ. Chính v́ không phát hiện ra điều ǵ sai phạm nơi thân tộc hoàng gia, họ liền thắc mắc, “Bằng cách nào có thể giảm thiểu tai nạn này đây.” Có một số người đề nghị sáu vị Đạo sư đó là [Puuraṇa, Kassapa và các vị khác, nói rằng] “ Tai nạn đó sẽ được giảm thiểu ngay sau khi họ xuất hiện.” Có số người khác lại cho rằng, “H́nh như đă có một vị Toàn Giác xuất hiện trên thế gian này”. Đức Thế Tôn sẽ giảng Pháp để đem lại phước đức cho chúng sanh. Ngài vô cùng quyền năng và dũng mănh. Toàn bộ tai nạn sẽ được giảm thiểu ngay sau khi ngài xuất hiện. Ngay lúc đó toàn dân đều rất phấn khởi và họ hỏi nhau, “ Đức Thế Tôn đang sống ở đâu?” Nếu như [162] chúng ta cho người đi mời ắt hẳn Ngài sẽ tới. Thế rồi một số người khác lại lên tiếng, “ Các Vị Toàn Giác luôn tỏ ra nhân hậu th́ làm sao Ngài lại không đến?”– “ Đức Thế Tôn đó hiện giờ đang cư trú tại thành Rājagāha và nhà vua Bimbisāra đang phục vụ Ngài. Rất có thể nhà vua chẳng để cho Ngài tới đây đâu.” – “ Thế th́ chúng ta hăy xin phép nhà vua đồng ư để cho chúng ta thỉnh Ngài tới đây!” Và họ liền phái đi hai vị quan nhiếp chính người Licchavi đến gặp nhà vua mang theo một lễ vật vô cùng quí giá, có một đạo binh hùng mạnh hộ tống. [bảo họ rằng] “Hăy xin nhà vua Bimbisāra đồng ư để cho các ngươi thỉnh Đức Thế Tôn đến đây”. Họ lên đường và dâng lên Đức Vua lễ vật vô cùng quí giá đó và thông báo cho nhà vua Bimbisāra những ǵ đang xảy ra, nói rằng “ Thưa Đại Vương, hăy cung thỉnh Đức Thế Tôn đến thăm thành phố chúng tôi”. Thay v́ đồng ư, nhà vua truyền, “ Các ngươi hăy tự đi t́m [Đức Thế Tôn] thỉnh đi.” Chính v́ thế họ liền đến gặp Đức Thế Tôn, sau khi đă kính lễ Ngài, họ liền thưa, “Thưa Đại Nhân Kính mến, có ba tai nạn đang nổi lên tại thành phố chúng tôi. Nếu như Đức Thế Tôn đến với thành phố chúng tôi, chúng tôi sẽ được an toàn.’ Đức Thế Tôn liền tập trung quán xét [vào sự việc đó và nhận ra điều đó] “ Khi nào Kinh Châu Báu được công bố tại thành phố Vesālī th́ An Toàn đó sẽ lan tràn khắp cả Thập Vạn Đại Thiên Tà Bà Thế Giới và khi kết thúc công bố Kinh đó có tới tám mươi tư ngàn sanh linh sẽ chứng đắc Pháp”, thế rồi Đức Thế Tôn đă đồng ư đến thành Vesālī . 12. Khi nhà vua Bimbisāra nghe biết Đức Thế Tôn thuận ư đến. Ngài phải công bố Kinh [Châu Báu] tại thành phố đó, nói rằng, “ Đức Thế Tôn đă đồng ư đến thăm thành Vesālī”, và thế rồi nhà vua liền đến Đức Thế Tôn hỏi rằng ‘Ngài đáng kính, Ngài đă đồng ư đến thành Vesālī tẩy uế rồi sao? – “ Bẩm hoàng thượng, đúng vậy.” – “ Thế th́ thưa Ngài, hăy đợi chúng tôi cho sửa sang lại đường xá đă.” Thế rồi nhà vua Bimbisāra cho san bằng đường xá một khoảng cách dài độ năm dặm. Giữa thành Rājagāha kéo dài cho đến tận sông Hằng. Và cứ cách một dặm nhà vua lại cho xây một nơi nghỉ ngơi. Sau đó nhà vua thông báo cho Đức Thế Tôn là mọi sự đă sẵn sàng đă đến giờ Ngài có thể lên đường. Đức Thế Tôn đă lên đường, đi theo là một đoàn tùy tùng có khoảng năm ngàn vị Tỳ Khưu hộ tống. Trên đường đi kéo dài suốt năm dặm đó nhà vua cho rải hoa ngũ sắc ngập cho đến đầu gối và cho treo cờ xí , biểu ngữ và cờ đuôi nheo, v.v... [163]. Nhà vua truyền làm hai chiếc lọng màu trắng che trên đầu Đức Thế Tôn và mỗi vị Tỳ Khưu cũng có một chiếc lọng như vậy. Thế rồi nhà vua kính lễ Đức Thế Tôn với hoa, nhang v.v... và cho cả đoàn tùy tùng của nhà vua hộ tống. Nhà vua truyền lệnh hăy để cho Đức Thế Tôn nghỉ tại mỗi ṭa nhà nghỉ đă cho xây dựng trên đường đi và tại mỗi nơi dừng lại đó nhà vua truyền thực hiện một cuộc bố thí thật xứng đáng. Bằng cách đó nhà vua đă hộ tống Đức Thế Tôn tới bờ sông Hằng trong ṿng năm ngày. Tại đó nhà vua cho truyền đóng một chiếc thuyền được trang hoàng với đủ loại đồ trang trí. Và rồi nhà vua c̣n gửi một thông điệp đến cho cư dân thành Vesālī truyền rằng: “Đức Thế Tôn đă đến. Hăy dọn đường xá. Hăy truyền cho mọi người ra nghênh đón Ngài. Họ quyết định thực hiện công việc kính lễ long trọng gấp đôi. Và v́ vậy, sau khi họ đă cho san bằng đường xá trong ṿng ba dặm giữa thành Vesālī chạy dài cho tới sông Hằng, họ đă cho sửa soạn bốn chiếc lọng màu trắng dành cho Đức Thế Tôn và hai chiếc dành cho mỗi vị Tỳ Khưu.Và để thực hiện kính lễ Đức Thế Tôn và đoàn tùy tùng các vị Tỳ Khưu dân chúng kéo ra rất đông và đứng tại bờ phía tây sông Hằng. Nhà vua Bimbisāra lại truyền cho đóng hai con thuyền nhập vào đoàn người nghênh đón Đức Thế Tôn và cho dựng trên hai chiếc thuyền đó một sảnh đường được trang trí bằng hoa v.v...và trên đó nhà vua cho làm một bảo tọa cho Đức Thế Tôn ngự, được làm bằng đủ mọi loại đá quí. Đức Thế Tôn ngồi trên bảo tọa đó và năm ngàn vị Tỳ Khưu liền bước lên thuyền mỗi vị ngồi tại chỗ xứng hợp với họ. Thế rồi nhà vua c̣n hộ tống Đức Thế Tôn xuống sông cho đến khi nước ngập đến cổ và nhà vua truyền: “Thưa Đức Thế Tôn, tôi sẽ lưu lại tại đây trên bờ sông Hằng này cho đến khi Ngài quay trở lại ” và rồi nhà vua hồi cung. Các vị Chư Thiên măi tận cơi Akaniṭṭha (ci trời sắc cứu cnh) [cùng các vị Chư Thiên nơi cơi Tịnh Cư] cũng kính lễ Đức Thế Tôn từ trên cao. Và Kambala và Long vương Naga Assanta và nhiều loại khác đang sinh sống dưới nước sông Hằng cũng kính lễ Đức Phật từ phía dưới như vậy. 13. Khi Đức Thế Tôn đang c̣n du hành trên sông Hằng như vậy khoảng độ một dậm với việc kính lễ long trọng như vậy, Ngài liền băng qua biên giới những người Vesalian. Thế rồi, tại đây thực hiện kính lễ Đức Thế Tôn gấp hai lần nhà vua Bimbisāra, các vị quan nhiếp chính người Licchavi đă đến nghênh đón Đức Thế Tôn họ bước xuống sông cho đến khi nước ngập đến cổ. Vào lúc đó, ngay khoảnh khắc đó, có một đám mây lớn, bóng tối đám mây che phủ bầu trời trên cao rộng khắp với sấm chớp nổi lên khắp nơi và trời bắt đầu đổ mưa xuống khắp tứ phương thiên hạ. Thế rồi khi Đức Phật vừa mới đặt chân [164] xuống bờ sông Hằng ngay lập tức một đám mưa hoa sen đổ xuống; nhưng chỉ có kẻ nào đă bị nước mưa làm ướt v́ muốn làm ướt ḿnh, và chẳng có ai không muốn bị ướt lại bị ướt cả. Khắp mọi nơi đều có nước ngập tới đầu gối, đến đùi đến thắt lưng rồi đến cổ và tất cả các xác chết được quét sạch xuống sông Hằng. Cho đến khi mặt đất được làm sạch sẽ. 14. Cứ mỗi khoảng cách độ một dậm những người Licchavi lại thỉnh Đức Thế Tôn dừng lại nghỉ chân và tại đó họ lại tổ chức một cuộc bố thí thật lớn. Như vậy chỉ trong ṿng ba ngày họ đă thực hiện kính lễ long trọng gấp hai lần nhà vua Bimbisāra đă thực hiện. Họ đă thỉnh Đức Thế Tôn vào thành Vesālī. Ngay sau khi Đức Thế Tôn vào thành Vesālī, Th́ Thiên Chủ (Sakka) Quốc Vương Các Vị Thần được cộng đoàn các Chư thiên báo trước liền đến. Với sự xuất hiện của các vị Chư Thiên với uy thế lớn lao đến như vậy, đa số các chúng sanh phi nhân đều bỏ trốn. Đức Thế Tôn liền dừng lại ngay cổng thành, và Ngài đă truyền cho Trưởng Lăo Ananda nói rằng. “Hỡi Ananda, hăy lắng nghe Kinh Châu Báu này, và cùng với các vị hoàng tử người Licchavi hăy thực hiện một nghi lễ Cầu An trong cuộc rước quanh những khoảng cách ba ṿng tường thành, hăy mang theo với các người những của cải vật chất để thực hiện nghi lễ dâng cúng. Và thế rồi Ngài công bố Kinh Châu Báu. 15. Đó là những ǵ Ngài trả lời cho câu hỏi: “ Ai đă công bố bài thuyết Pháp này? Khi nào? và tại sao bài thuyết Pháp được công bố. Đă được các vị Trưởng lăo đưa ra chi tiết. Bắt đầu với chuyện kể về Thành Vesālī. 16. Chính v́ thế đang lúc Kinh Châu Báu là mục tiêu nhằm phá tan dịch bệnh được công bố ngay tại cổng thành vào chính ngày Đức Thế Tôn đặt chân đến thành Vesālī, th́ vị Trưởng Lăo Ananda đă học biết được kinh này và rồi Trưởng Lăo tụng kinh đó sau này như là một nghi lễ cầu an. Trưởng Lăo Ananda đă dùng bát khất thực của Đức Thế Tôn để lấy nước và tiến hành rẩy chung quanh thành phố. Ngay sau khi những lời “bất kỳ điều ǵ cũng chẳng hệ ǵ” (đoạn kệ 3) được vị Trưởng Lăo công bố, th́ toàn bộ các chúng sanh phi nhân chưa kịp chạy trốn đều bỏ chạy trốn hết và núp vào những đống phân và đằng sau bức tường thành và những chỗ đại loại như vậy, chúng đă bỏ trốn ra khỏi thành qua bốn cổng. Nhưng cổng thành đó lại không đủ rộng để chúng chạy trốn chính v́ thế một số đă không thể bỏ chạy qua lối cổng thành và đă phá tường thành mà chạy trốn. Bệnh tật xuất hiện trên tay chân con người được chữa lành. Toàn dân đă đổ ra đường để kính lễ vị Trưởng Lăo với đủ mọi loại hoa, hương nhang, v.v... đám đông [165] đă tràn ngập sảnh đường ngay trung tâm thành phố với đủ mọi hương hoa làm thành một màn trướng trang điểm với đủ mọi loại đồ trang sức và khi họ đă sửa soạn một bảo tọa cho Đức Thế Tôn, họ đă thỉnh Ngài ngự trên bảo tọa đó. Đức Phật đă vào sảnh đường thành phố và ngồi trên bảo tọa dọn sẵn cho Ngài. Cùng với Tăng đoàn các vị Tỳ Khưu, các quan nhiếp chính và dân chúng ngồi tại chỗ dành riêng cho họ. Vị Thiên Chủ (Sakka) quốc vương các vị Chư Thiên đang ngự trên hai cơi trời. [5] và các vị thần khác khi vị Trưởng lăo Ananda tiến hành đi quanh toàn bộ thành Vesālī và đă hoàn tất cử hành nghi lễ cầu An, Ngài quay trở lại với thần dân thành Vesālī và ngồi xuống một bên. Tại đó Đức Thế Tôn đă công bố cùng một Kinh Châu Báu đó cho toàn thể dân chúng. Tới điểm này, điều ǵ đă được đưa ra trong bộ kinh, cụ thể là
Do ai công bố, khi nào và ở đâu, và tại
sao Đă được tŕnh bày đến từng chi tiết dưới mọi khía cạnh. [Chú Giải các từ và ư nghĩa.] 17. Nhưng v́ đă có lời nói rằng:
Ở bất kỳ nơi đâu, vào thời gian thuận lợi Việc chú giải về ư nghĩa phải được bắt đầu thực hiện. Giờ đây có một số người khác cho là chỉ có năm đoạn kệ đầu tiên là do Đức Phật công bố, số c̣n lại là do Trưởng lăo Ananda công bố vào thời điểm Ngài thực hiện nghi lễ Cầu An. Điều này thực chất có thể là như vậy hay cũng có thể không phải thế. Nhưng liệu việc điều nghiên đó có liên quan đến chúng ta hay không? Tập Chú Giải chúng ta sẽ thực hiện về Kinh Châu Báu này thực sự sẽ thích hợp trong cả hai trường hợp. [Đoạn kệ 1 - Lời Hô Hào] 18. Đoạn kệ đầu tiên bắt đầu như sau:
Yānīdha bhūtāni [samāgatāni bhummāni vā
yāni va antalikkhe
Phàm ở tại đời này, có sanh linh tụ hội Liên quan đến từ “ bất kể điều ǵ” trên trần gian này [trong đoạn kệ này]: (yānī) [có nghĩa là] bất kể loại nào cho dù có ảnh hưởng nhỏ bé hay to lớn. Ở đây (idha): nơi vị trí này; Ngài nói đến việc ám chỉ nơi hội họp vào dịp đó. Các sanh linh (bhūtāni): từ bhūta [quá khứ phân từ của động từ bhavati ‘hiện hữu’ [6]] trong các đoạn như thực tế, khi điều đó là như vậy, (bhūtasmim),là một lỗi phạm bắt phải có việc đền tội (Vin. iv. 25) ư nghĩa là thực sự (vijjmāna) và trong các đoạn như [thực thể] chính là (bhūta)”; [167] Ngài có nhận ra điều này chăng, hỡi các vị tỳ khưu?’ (M. i. 260) lại có ư nghĩa ngũ uẩn (khandha pañcaka),và trong các đoạn như, hỡi các vị Tỳ Khưu, tứ đại hiển (mahā-bhūta) là nguyên nhân (S iii 101) có nghĩa là sắc tứ đại hiển (rūpa), gồm có địa đại và [các đại như thủy đại, hỏa đại và phong đại), và trong các đoạn như: sanh linh (bhūta) đă chiếm hết thời gian (ja. ii. 260) điều này có nghĩa là (một vị A-la-hán) một người đă đoạn tận được hết các lậu hoặc của ḿnh (khīnāsava Bậc Lậu Tận), và trong các đoạn như, Không có chng sanh nào trên thế gian này chỉ có hợp chất mà thôi. (D. ii. 157) điều này có nghĩa là toàn bộ các chúng sanh (satta), và trong các đoạn như, rơi vào [7] cuộc sống thực vật (bhūtagāma) (Vin. iv. 34) có nghĩa là các loại cây (rukkha), v.v...và trong các đoạn như, Ngài chiêm ngưỡng một chúng sanh (bhūtam.- M. bản văn ghi là bhūte) như là một hữu thể (bhūtato) (M. i. 2) lại có nghĩa là thân xác của các chúng sanh (sattakāya) thấp hơn cơi trời Tứ Đại Thiên Vương. [Giờ đây] cho dù [từ này có nhiều ư nghĩa như vậy] [tuy nhiên] nên hiểu điều này như là tất cả những chúng sanh không phân biệt thuộc dạng phi nhân. Qui tụ lại (samāgatāma): tụ họp lại. 19. Chính v́ thế hoặc trên cơi đời này (bhummāni): được sanh ra trên đời này. hay (vā) lại là một [tiểu từ] khác; có nghĩa là một cách khác với các từ bất kỳ sanh linh nào – hoặc sanh ra trên đời này – đều tụ họp lại nơi đây thế th́ để chọn cách thứ hai Ngài nói hoặc là trên trời cao (yāni va antalikkhe), có nghĩa là bất kể chúng sanh nào cho dù được sanh trên trời cao cũng đều tụ họp lại ở đây. Và ở đây ta cũng nên hiểu là những chúng sanh được sanh trên cơi trời Dạ Ma xa tít tận cơi trời [8] Akaniṭṭha Sắc cứu cánh là các chúng sanh ở trên tít trời cao v́ chúng được sanh ra trong những nơi ở thần tiên trên tít tận trời cao. Và ta cũng có thể hiểu rằng các chúng sanh đang cư trú nơi cây cối, cây dây leo, v.v... hoặc được sanh ra trên mặt đất này, phía dưới cơi [trời Dạ Ma] từ ngọn núi Sineru trở xuống đều là những chúng sanh trên mặt đất này, v́ tất cả đều được sanh ra trên mặt đất này và trên các cây cối, cây leo, vách đá, v.v... là những ǵ gắn liền với trái đất này. 20. Giờ đây Đức Thế Tôn đă gom tất cả các chúng sanh phi nhân trong hai câu văn khác nhau. Cho dù chúng có là chúng sanh trên mặt đất hay trên trời cao, chớ ǵ từng chúng sanh đó hay toàn bộ chúng đều được b́nh tâm. Về điểm này, toàn bộ (sabbe) [có nghĩa là] không phân biệt. Từng loại (và eva nghĩa đen là đúng là) chỉ dùng để nhấn mạnh; ư định của Ngài là: không loại trừ bất kỳ loài nào cả. Các sanh linh ở đây (bhūta, giống đực số nhiều) có nghĩa là: các chúng sanh phi nhân. Chớ ǵ....được b́nh tâm (sumāna bhavantu): chớ ǵ họ có được vui sướng trong tâm (sukhitamana), trở nên hạnh phúc và vui sướng. 21.Và cũng như (atho pi): cặp tiểu từ này ám chỉ điều ǵ ta sắp nói tới. Mục tiêu là đưa ra mối liên kết giữa các chức năng của các từ được đề cập tới. Chớ ǵ họ chú ư lắng nghe những lời này. (sakkacca sunantu bhāsitam): [168] lắng nghe, chú ư nghe, và toàn tâm đáp ứng lại, chớ ǵ họ lắng nghe lời dạy của Ta, chỉ đem lại những điều tuyệt diệu từ trời cao và hạnh phúc siêu thế xuống cho họ mà thôi. 22. Chính v́ thế sau khi Đức Thế Tôn đă gộp toàn bộ các chúng sanh trong một câu bất định “bất kỳ sanh linh nào trên cơi đời này đều tụ tập lại ở đây” và rồi lại xác định chúng thành hai loại như trên chính v́ vậy cho dù được sanh ra trên địa cầu này hay tại cơi trời cao.’ Và Ngài đă hợp nhất chúng lại bằng các từ “chớ ǵ mỗi sanh linh cũng như toàn bộ chúng sanh đó”. Ngài đă kết luận đoạn kệ bằng cách động viên cổ vũ chúng về điều tuyệt diệu cuối cùng (xin đọc Ch. v. § 37) với các từ sau, chớ ǵ họ được b́nh tâm và về điều tuyệt diệu do những phương thức Ngài đưa ra với các từ, “Hăy lắng nghe cẩn thận những lời này, và cũng giống vậy Ngài đă động viên cổ vũ họ liên tiếp về điều tuyệt diệu trong việc chú tâm lắng nghe và điều tuyệt vời nơi những ǵ người khác nói (xin đọc M. i. 294) và cũng lưu ư đến điều tuyệt diệu với ư hướng tốt lành nhằm tự hướng chính ḿnh và phục vụ những Thiện Nhân (xin đọc A, ii. 22) và Ngài cũng đưa ra điều tuyệt diệu về nguyên nhân Định và Tuệ. [Đoạn kệ 2 – kết thúc lời động viên]
[Tasmā hi bhūtā nisāmetha sabbe mettam
karotha mānusiyā pajāya.
Do vậy các sanh linh, tất cả hăy chú tâm 23. Đoạn kệ thứ hai [bắt đầu] “ Do vậy các sanh linh”. Về điểm này, chính v́ thế (tasmā) là một từ nêu lên lư do. Ôi tất cả sanh linh (bhūta): một từ dùng để nói . Hăy chú tâm (nisāmetha): hăy lắng nghe. Tất cả (sabbe): không phân biệt. Ngài muốn ám chỉ điều ǵ vậy? Ngài muốn nói, do các ngươi đă từ bỏ các nơi trời cao và điều tuyệt diệu sung sướng, t́m thấy trong đó mà lại tụ hội lại nơi đây nhằm mục đích lắng nghe Pháp không nhằm mục tiêu chiêm ngưỡng những vũ nữ, vũ điệu, v.v...chính v́ thế mà các sanh linh, đă chú ư lắng nghe tất cả. Hoặc giả, hăy đọc thêm điều đó trong các câu “chớ ǵ họ được b́nh tâm”, và “hăy chú tâm lắng nghe” họ được b́nh tâm và chỉ muốn lắng nghe, điều Ngài muốn nói ở đây là, “V́, nhờ được b́nh tâm, các ngươi được phù hợp do bởi có những mục tiêu tinh tuyền do phương hướng tự dẫn ḿnh tới và chú tâm thường xuyên, và v́ do ước muốn lắng nghe chăm chú. [các ngươi có được nhờ việc phục vụ những Bậc Chân Nhân và lắng nghe người khác chỉ bảo, nhờ đó mà h́nh thành cho ḿnh căn bản Chánh kiến. Chính v́ thế, tất cả các sanh linh hăy chú ư lắng nghe”, hoặc giả, quay trở lại với đoạn “những lời này” ở cuối đoạn kệ trước là lư do, Ngài muốn nói rằng “V́ những lời của ta rất khó ḷng kiếm được do bởi rất khó t́m ra thời điểm nào có thể tránh được toàn bộ [những nét riêng đặc biệt nơi giây phút không đúng đắn đó. [9] và [bởi v́] những lời của ta có rất nhiều lợi điểm bởi lư do chúng luôn luôn xuất hiện kèm theo những ân đức đặc biệt gồm trí tuệ và ḷng bi mẫn.- và đó là điều ta muốn diễn đạt khi ta nói “Hăy lắng nghe...những lời này.” Do vậy hỡi tất cả các sanh linh hăy chú tâm; đó là điều muốn nói tới ở ḍng này. 24. Sau khi đă động viên khích lệ chúng sanh hăy lắng nghe chính lời của Ngài bằng lư do đă biện dẫn. Ngài bắt đầu chú giải chú tâm là ǵ theo như Ngài đă công bố [nói rằng] mà ta phải [169] hăy thực thi từ tâm cho mọi người. (mettam karotha mānusiyā pajāya). Ư nghĩa điều này như sau: “Hăy thiết lập t́nh bằng hữu (mittabhāva) chỉ ước muốn điều tốt lành cho mọi chúng sanh mọi dân tộc đă bị ba tai nạn hoành hành”; nhưng một số lại đọc là mānusiyam [thay v́ mānusiyā] là sai v́ nghĩa định sở cách không hàm chứa ở đây. [10] và v́ vậy những ǵ các từ này chú giải [trên căn bản đó] là sai. Ư định ở đây như sau: Ta không nói điều đó dựa trên sức mạnh kiêu căng ngă mạn với tư cách là một người đă Giác Ngộ, nhưng chính là v́ hạnh phúc cho chính các ngươi và cho ḍng giống nhân loại mà ta đă phải thốt lên “hăy thực thi từ tâm cho nhân loại”. Và bằng cách nào từ tâm đem lại lợi ích cho những kẻ thực hiện điều đó là điều ta có thể hiểu được ở đây nhờ vào bài thuyết Pháp sau đây: “Sau khi đă khuất phục được khắp tứ phương thiên hạ, có cơm ăn nào là chúng sanh, sanh linh. Vị Đại Nhân vương đế đă đi ṿng quanh khắp nơi, dâng cúng lễ vật với nghi thức tráng lệ. Cả tế lễ ngựa lừa lẫn tế lễ nhân loại. Cộng cả nghi thức giải thoát và rất nhiều đồ uống vāja;Thật không xứng chỉ một phần mười sáu. Đối những ǵ Ngài tích luỹ từ tâm trong chúng sanh”. (A. iv. 151). Và “Kẻ nào có tâm không vấy bẩn sân hận có thể đổi lấy từ tâm mà đối xử tốt với chỉ một sanh linh có hơi kệ. Chỉ có một thực tế đó được hoàn thiện: nhưng nếu tâm trí. Lại chứa chấp với ḷng từ tâm đối với mọi sanh linh có hơi kệ. Khi một người được trở nên cao quí nhờ thực hiện được việc công đức cao cả”. Và nhờ [bài kinh] về mười một điều lợi ích (A .v 342); thế rồi làm thế nào bài thuyết Pháp đó đem lại lợi ích cho những người thực hiện từ tâm có thể được hiểu nhờ bài kinh đó sau:
người nào được các Chư thiên đồng cảm, 25. Sau khi nói rằng. “Hăy tỏ ḷng từ tâm cho nhân loại trên thế gian này” như vậy Ngài chỉ ra cho thấy làm sao thực hiện điều đó có lợi cả đôi đường, đến đây Ngài nói thêm “Ban ngày và ban đêm họ mang vật cúng đường. Do vậy không phóng dật hăy giúp đỡ hộ tŕ”.[Divā ca ratto ca haranti ye balim tasmā hi ne rakkhatha appamattā.] lại cho thấy điều [170] trợ giúp [phải thực hiện] là ǵ. Ư nghĩa điều này là như sau: có những con người miêu tả sinh động các Chư thiên bằng những bức tranh và những tượng điêu khắc bằng gỗ và đi đến chùa,tháp, cây, v.v...và v́ họ đă thực hiện dâng cúng lễ đường vào ban ngày hay họ đă thực hiện dâng cúng lễ đường ban đêm bằng đèn [11] vào những đêm không có trăng. v.v...; hay họ thực hiện dâng cúng lễ đường vào ban ngày cho các vị Chư Thiên hộ tŕ bởi những lễ vật thường đem lại công đức đến tận các vị Chư Thiên trời cao bằng cách thực hiện các bữa ăn phát chẩn, v.v... thực hiện việc che lọng, đốt đèn và ṿng hoa. Chính v́ thế khi họ thực hiện những việc cúng dường cho bạn cả ngày lẫn đêm như vậy th́ làm sao bạn lại có thể không ǵn giữ họ đây? Chính v́ thế hăy bảo vệ họ; chính v́ thế hăy bảo hộ độ tŕ những con người đă thực hiện những buổi cúng dường. Hăy đẩy lui những thống khổ cho họ, hăy đem lại hạnh phúc cho họ, hăy chuyên tâm ghi khắc trong ḷng việc tri ân đó và suy tưởng thường xuyên về điều này. [Đoạn Kệ 3 – Người Toàn Hảo]
[Yam kiñci vittam idha vā huram vā saggesu
vā yam ratanam panītam,
Phàm có tài sản ǵ, đời này hay đời sau 26. Như vậy sau khi đă chứng tỏ cho thấy các Chư Thiên đem lại lợi ích lớn lao cho con người đến nhường nào, [giờ đây] Ngài bắt đầu thốt lên một lời cầu khẩn chứa đựng chân ngôn được bắt đầu như sau. Có bất kỳ điều ǵ đáng giá, thực hiện như vậy nhằm mục đích loại bỏ dịch bệnh và nhằm mục tiêu giúp cho cả các Chư Thiên lẫn con người được lắng nghe Pháp bằng cách chú giải những ân đức đặc biệt và điều ǵ c̣n lại. 27. Về điểm này, bất kỳ điều ǵ...thấy có (yam. Kiñci) bao gồm toàn bộ bất kỳ điều ǵ thích hợp để đem ra trưng bày chỗ này chỗ nọ. Điều ǵ có giá trị (vittam) có nghĩa là tài sản giàu có; v́ điều đó tạo ra [phần thưởng] do sự phú quí thịnh vượng (vitti) đem lại, như vậy đó là những tài sản có giá trị. (vitta). Ở đây hay (idha vā) chứng tỏ cơi nhân loại này. Thế giới ở xa (huram vā) chứng tỏ điều c̣n lại trên thế gian này ngoài điều đó. (thế giới bên kia). Giờ đây mặc dù điều sau này có thể mở rộng tới mức độ bao gồm toàn bộ thế gian này ngoại trừ con người. [Tuy nhiên] v́ hay cả trên Thiên cung nữa, được đề cập tiếp theo sau đó cả thế giới loài người lẫn thế giới thiên đường được gộp chung lại như vậy, điều được hiểu [do từ nơi xa xăm] lại được gộp chung lại với những thế giới c̣n lại đó là thiên giới của các (Nagas) Long vương, (Supannas) Kim Sí Điểu v.v... [12] Chính v́ thế điều mà được chứng tỏ bằng hai từ này [cơi đời này hay thế giới ở xa] là bất kỳ vật ǵ có giá trị, đó là thích hợp cho nhân loại [cơi đời này] và có thể được sử dụng như là một món đồ trang sức: vàng, bạc, đá quư, pha lê, lục ngọc thạch, san hô, hồng ngọc, ngọc bích.v.v...và bất cứ vật ǵ có giá trị thuộc về (Nàgas) Long vương, (Supaṇṇas) Kim Sí Điểu..... [nơi cơi xa xăm] là điều nổi lên nơi những cơi đó trải dài hàng trăm ngàn dậm [171] những ngôi nhà được xây dựng bằng đá quí đứng sừng sững, trên mặt đất rơi văi khắp nơi với đá quí và pha lê. 28. Hoặc ở tại Thiên Giới. (saggesu vā): thuộc cơi dục giới và cơi sắc giới các Chư thiên; v́ do hành vi đáng ca ngợi (sobhana) họ đă đạt đến được cũng như đă chứng đắc (gammanti) [13] đó chính là thiên đường vậy. (sagga) hoặc giả chúng hoàn toàn (suṭṭhu) tốt đẹp nhất (agga) như vậy, chúng là thiên giới Điều (yam.) có người sở hữu hay những ǵ không có chủ nhân. Châu báu (ratamam): sẽ đem lại, mang đến, tạo ra (janayati). [14] Cảnh sung sướng (rati –nghĩa đen là ‘niềm sảng khoái’). Như vậy đây là một châu báu (ratana); đây chính là biểu tượng đối với bất kỳ điều ǵ đáng khâm phục, điều có giá trị lớn, vô giá, hiếm thấy, và được các chúng sanh siêu việt sử dụng, theo như những ǵ được nói đến như sau: “(1) Điều đáng khâm phục, (2) có giá trị rất lớn. (3) Điều vô giá, (4) hiếm khi thấy được. (5) chỉ những chúng sanh siêu việt mới sử dụng; đó là ư nghĩa những ǵ từ “châu báu’ muốn ám chỉ.” Hiếm có (panītam - nghĩa đen là “ thượng hạng”: trổi vượt, tốt nhất, không tầm thường. Chính v́ thế điều ǵ được biểu thị trong ḍng chữ này là bất kỳ loại châu báu nào như thể một Sudhamma [Diệu Pháp đường]. Vejayanta [ṭa lâu đài] [15] v.v... đều là các ṭa nhà thiên quốc được làm bằng đủ mọi loại đá quí và rộng đến hàng trăm dậm. và cũng như vậy bất kỳ châu báu nào không có chủ, hoặc là thuộc về các ṭa nhà thiên cung đă bỏ vắng chủ khi các chủ nhân đă [được tái sanh xuống trần] lấp đầy cơi khổ cảnh trong thời điểm vắng bóng một vị Giác Ngộ; hay bất kỳ châu báu nào vô chủ nằm trên mặt đất, nơi đại dương,trên núi Hy Mă Lạp Sơn v.v... 29. Không ǵ sánh bằng được với Như Lai Thiện Thệ (Na no samam atthi tathāgatena): không ǵ (na) dùng để phủ định. [không] Ai (no) dùng để nhấn mạnh. [16] Sánh bằng (samam): có thể sánh được với một vị Như Lai Thiện Thệ (Tathāgatena): với một vị Toàn Giác Ngộ được đâu. [17] 30. Điều này có nghĩa là ǵ vậy? đó là bất kỳ có tài ǵ đáng giá và có châu báu thù thắng nào, cũng chẳng có bất kỳ điều ǵ có thể sánh bằng Phật Bảo ở đây cả. 31. (1) Đến đây bất kỳ châu báu [có thể được định nghĩa] là được ngưỡng mộ rất nhiều (§ 28). Thí dụ như, một Bảo luân xa hay là một viên ngọc Bảo châu một Chuyển Luân Vương (xin đọc D. Sutta 17 và Trung Bộ Kinh Sutta 129 và các tập chú giải tương ứng) - một khi đă khởi xuất, th́ đa số chúng sanh chẳng c̣n trầm trồ khen ngợi bất kỳ điều ǵ khác, và tuyệt đại đa số chúng sanh chẳng c̣n kính lễ với hoa, hương nhang v.v... những nơi kệ tự của bất kỳ chúng sanh phi nhân hay quỉ thần nào khác; nhưng toàn bộ chúng sanh chỉ c̣n biết kính lễ Châu Báu Luân và Ngọc Châu Báu mà thôi; và họ sẽ cầu khẩn chúng đem lại cho họ ân huệ này nọ và có đôi khi họ cũng được toại nguyện nơi những ǵ họ cầu xin ngay cả một châu báu có sức thần như vậy cũng không thể nào sánh bằng với Phật Bảo. Nếu một châu báu được định nghĩa là được khen ngợi ngưỡng mộ. Th́ chỉ có duy nhất một vị Như Lai Thiện Thệ là xứng được như vậy mà thôi.; [172] V́ khi một vị Như Lai Thiện Thệ xuất hiện, th́ bất kỳ các Chư Thiên hay nhân loại nào với ảnh h | |