|
Bản Pāli ngữ:
Bhadantācariya Buddhaghosa PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
[02] CHƯƠNG IV
NAM
TỬ HỎI ĐẠO
1. Giờ đây đến lượt chúng ta đề cập đến phần chú giải về Nam Tử Hỏi Đạo bắt đầu [với các từ]Một pháp là ǵ vậy? Chúng ta sẽ đưa ra một lời giải thích sau khi nói đến Nhu Cầu pháp sanh [1] [để Đức Phật nói lên những lời này] và các từ này được đưa ra ở đây nhằm mục đích ǵ [với tiêu đề thứ tư trong Tiểu tụng]. 2. Nhu Cầu phát sanh là như thế này. Đức Phật có một Đại đệ tử tên là Sopāka. Người này đă phát triển được trí [2]chung cuộc vào lúc tuổi đời mới lên bảy tuổi kể từ ngày sanh. Đức Phật muốn cho phép ngài được thọ cụ túc giới vào trong Tăng Già thông qua phương pháp cho ngài trả lời những câu hỏi, và thấy [3] khả năng trả lời của ngài mà Ngài hiểu theo nghĩa, mà (Đức Phật) có cố ư chính ngài đưa ra câu hỏi. [76] Và ngài đă đưa ra câu hỏi bắt đầu với các từ: Một pháp là ǵ vậy? Nam tử đă trả lời và làm hài ḷng Đức Phật với câu trả lời của cậu. Và đó chính là nghi thức thọ thụ túc giới của Trưởng lăo. Đây là nhu cầu nổi lên về những lời tuyên bố này. 3. Giờ đây tu tiến tâm thanh tịnh [nói cách khác, tức là Định] bằng cách niệm tưởng đến Đức Phật, Giáo Pháp, và Tăng Già như đă được giải thích trong phần đề cập đến Quy Y Tam Bảo (Ch. I) và tu tiến về giới cho ḿnh cũng đă được giải thích trong chương nói về mười điều học (Ch. II) và tu tiến niệm thân cũng đă được giải thích dưới tiêu đề Ba Mươi Hai Thể. (Ch. III) và v́ thế cho nên những câu hỏi này được đưa ra ở đây (nơi vị trí chúng có được trong Tiểu tụng] để minh chứng những tiêu đề thông qua đó ta hiểu biết trí tuệ về nhiều khía cạnh đa dạng được tu tiến, hay nói cách khác, đó chính là Định có giới làm nền tảng, tuệ có định làm nền tảng, như Đức Phật đă nói:
Khi người khôn ngoan khéo an trú trong
giới V́ thế cho nên ta có thể hiểu điều này sau khi đă sử dụng mười điều học để chứng tỏ cho thấy giới ra làm sao, và Ba Mươi Hai thể để chứng tỏ nhập định đă có được kế sách thực hiện. Những câu hỏi được đưa ra ở đây để chứng tỏ cho thấy các loại tuệ thuộc về nhiều pháp tạo thành phương tiện tâm định. [4] Đây chính là mục tiêu chúng ta đưa ra. 4. Đến đây chúng ta đưa ra bài chú giải [về những câu hỏi này] I. [Eke nāma kim? Sabbe Sattā āhāratthitikā] Thế nào là một? Mọi Loài hữu t́nh đều tồn tại nhờ thức ăn. Đức Phật hỏi một pháp là ǵ vậy? Ngài đặt câu hỏi có liên quan đến một pháp, nhờ ly tham hoàn toàn cuối cùng một vị tỳ khưu có thể chấm dứt được đau khổ, hoặc [một pháp], nhờ việc ly tham như vậy người [5] này cuối cùng có thể chấm dứt được đau khổ. 5. Vị Trưởng Lăo trả lời: Mọi Loài hữu t́nh đều tồn tại nhờ vật thực. Ngài trả lời như vậy [tận dụng] phương cách thuyết giảng các từ của một con người. [6] Và ở đây, đang khi tiến hành giải thích câu trả lời, lại là một bài Kinh gọi là ‘Thế Nào Là Chánh Niệm?’ Ở đây, hỡi các vị tỳ khưu, một vị tỳ khưu đang niệm thân trong thân,’ (D. ii. 313) đă tạo ra điều đó. [7] 6. [Chính v́ thế] những ǵ được hiểu ở đây phải được vị Trưởng Lăo khẳng định khi ngài đưa ra câu hỏi ‘một pháp là ǵ vậy? là thức ăn đưa vào miệng nhờ đó mọi chúng sanh được cho là ‘tồn tại nhờ vào thức ăn’ tức là sự tồn tại nơi các chúng sanh đều nhờ vật thực; v́ đây là điều chính Đức Phật đă cố ư nói đến. Một pháp với từ ‘một’ cho dù không cố ư ám chỉ ‘chẳng phải ở trong Cộng Đồng Tăng Già, cũng không phải ở ngoài đời, phàm tục [lời giảng dạy thuộc trần tục và thuộc môn phái bên ngoài] liệu c̣n tồn tại bất kỳ một con số ‘một’ nào nữa hay không? [77] Về vấn đề này, Đức Phật nói như sau: “Hỡi các vị tỳ khưu, khi một vị tỳ khưu đă ly tham hoàn toàn với một pháp, khi tham dục của vị đó liên quan đến pháp đó đă hoàn toàn phai nhạt, khi vị đó được giải thoát hoàn toàn khỏi pháp đó, khi vị đó nhận ra hoàn toàn việc kết thúc pháp đó, sau khi đă đạt được điều chính trực, [8] ngài có thể kết thúc đau khổ tại đây và lúc này, một pháp đó là ǵ vậy? Đó là toàn thể chúng sanh đều tồn tại nhờ vật thực: khi vị tỳ khưu đă hoàn toàn ly tham với một pháp này... chính ngài là người... sẽ chấm dứt đau khổ ngay tại nơi đây và vào lúc này. Chính v́ thế liên quan đến vấn đề này, Đức Phật đă nói [trước đó]như sau: ‘Một câu hỏi, một biểu hiện và một câu trả lời’ (A.v. 50-1). Và ở đây, [đối với cách diễn tả] ‘tồn tại nhờ vật thực’, v́ một duyên được gọi là ‘thức ăn’ hay là ‘chất dinh dưỡng’ trong những đoạn văn như thể là: ‘Hỡi các vị tỳ khưu, luôn tồn tại tướng sắc’. Việc tu luyện không khéo tác ư đối với vật thực khiến cho tham về dục lạc chưa sanh được sanh khởi (S. v.64) Khi sử dụng từ ‘vật thực’phù hợp ư nghĩa lại có một ‘nguyên nhân’ đó là [toàn thể các chúng sanh] tồn tại nhờ các ‘nguyên nhân’, thế nên chúng ta mới nói ‘tồn tại nhờ vào vật thực’ 7. Tuy nhiên, nếu ‘tồn tại nhờ vào vật thực’ [được coi như] liên quan đến những ǵ ta đă nói về ‘tứ thực’, [9] th́ từ ‘toàn bộ’ có thể không hợp v́ lư do ta có đoạn sau: ‘các vị trời được coi là các chúng sanh vô tưởng lại thuộc dạng vô nhân (root-cause-less) [10] không có vật thực, không có xúc, và không có thọ.’ (Vbh. 4519). Đến đây ta có thể nói: Ngay cả khi ta đă khẳng định như vậy, tuy nhiên v́ có đoạn văn như sau: ‘Những pháp câu hành với những duyên là ǵ vậy?’ Đó là ngũ uẩn cụ thể là, sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn (Dhs.1083) sự tồn tại nhờ vào các nguyên nhân chỉ thích hợp đối với các uẩn mà thôi, và ư nghĩa đoạn văn này h́nh như không thích hợp với các chúng sanh.- ta không nên hiểu theo cách này.- Tại sao không? V́ trong trường hợp các chúng sanh , cách thiết lập chỉ được coi như là ẩn dụ [11] đối với các uẩn mà thôi.; v́ trong trường hợp các chúng sanh nầy đây [từ chúng sanh] được thiết lập như là ẩn dụ – Tại sao vậy? – v́ các chúng sanh này phải được mô tả như là bắt nguồn từ các uẩn. [12]- Bằng cách nào vậy? - Giống hệt như trường hợp ‘ngôi làng’ là ẩn dụ cho những ngôi nhà. Chính v́ thế, [13] khi có vài ba ngôi nhà trong làng bị hoả hoạn, người ta nói là ‘ngôi làng đă bị cháy’ v́ ‘ngôi làng’ thực sự đă được mô tả như bắt nguồn từ các ngôi nhà vậy, chính v́ thế ẩn dụ ‘ngôi làng’ được thiết lập có liên quan đến ngôi nhà vậy, cũng v́ thế, ẩn dụ này, cụ thể là ‘các chúng sanh tồn tại nhờ vật thực cũng được thiết lập liên quan đến các uẩn, tồn tại nhờ vào vật thực hiểu theo nghĩa như là các nhân duyên (thiếu nguyên nhân này th́ các uẩn đó không thể xuất hiện] [78]. Và hiểu theo nghĩa tuyệt đối cũng vậy. Ta nên hiểu rằng việc sử dụng từ ‘các chúng sanh’ chỉ là phép ẩn dụ đối với các uẩn mà thôi, là điều Đức Phật đă chứng minh được thiết lập khi ngài nói: ‘Đang khi các uẩn khởi sanh và già đi từng sát na một, th́ hỡi chư vị tỳ khưu, nhà ngươi cũng được khởi sanh, già theo ngày tháng và cuối cùng là chết.’ . Kết quả là ta có thể hiểu ‘một’ (ekam) ở đây [có nghĩa là] duyên, được gọi là ‘vật thực’ hay ‘chất dinh dưỡng’ nhờ đó toàn thể chúng sanh tồn tại được, hay sự tồn tại của toàn bộ các chúng sanh là nhờ vào vật thực. 8. Đến đây hoặc giả đó là vật thực hay sự tồn tại nhờ vào vật thực. Đây chỉ là một lư do để ta ly tham mà thôi. V́ do khía cạnh vô thường của [vật thực]. Và rồi khi người nào đó ly tham bằng cách thấy vô thường nơi những pháp hành cho rằng ‘toàn bộ các chúng sanh’ sẽ có thể diệt được toàn bộ đau khổ và đạt đến thanh tịnh hiểu theo nghĩa tuyệt đối, như Đức Phật đă nói:
Ôi mọi pháp hành đều chỉ là vô thường 9. Và đến đây ta lại có câu ‘Thế Nào Là Một?’ (ekam māama kim) ta có hai cách hiểu ở đây: tức là kim và ki ha. Ở đây bản dịch Sinhale đọc là ki ha; v́ họ nói ‘ki ha’ khi đáng lẽ phải nói là ‘kim’. Một số ngựời lại khẳng định rằng ‘ha’ chỉ là một ‘tiểu từ’ mà thôi và c̣n nữa đây chỉ là cách dịch theo truyền thống [14] của các Vị Trưởng Lăo mà thôi. Tuy nhiên ư nghĩa th́ giống nhau trong cả hai trường hợp, và ta có thể đọc tùy theo cách ám chỉ. Và c̣n nữa [giống như]trong câu ‘Sukkhena phutthā atha vā dukkhena’ (có nghĩa là khi khoái lạc và đau đớn ảnh hưởng đến ai đó’: Dh. 83) và ‘dukkham domassam patisanvedeti’ (hắn cảm nghiệm được đau đớn và buồn khổ’: (M. I. 313), trong một số trường hợp người ta nói đến ‘dukkham’ và một số trường hợp khác lại đề cập đến ‘dukam’, chính v́ thế cũng tương tự như vậy, có lúc th́ dùng từ ‘eka’, đôi khi lại dùng ‘ekam’; và thực tế ở đây cũng vậy ta thấy có đoạn viết là ekam nāma. II- [Dve nāma kim? Nāmañ ca rūpañ ca.] Thế nào là hai? Danh và Sắc. 10. V́ thế cho nên hài ḷng với câu trả lời về vấn đề ngài đưa ra, bậc Đạo Sư (Đức Phật) lại đưa ra một câu hỏi khác đó là Hai pháp là ǵ vậy? Giống y hệt như cách thức ngài đă hỏi trước đó. 11. Đang khi trả lời về [con số] ‘hai’, vị Trưởng Lăo đáp ngay đó là Danh và Sắc, [sử dụng] phương cách thuyết pháp bằng các từ pháp. 12. Ở đây, v́ hành vi cúi xuống (namana - Có nghĩa là, suy nghĩ [15]) hướng đến một đối tượng và v́ đóng vai tṛ nguyên nhân cho xu hướng (nati – có nghĩa là, [suy nghĩ] của tâm, toàn thể [79] những ǵ thuộc dạng phi sắc (arūpa) đều có tên gọi là ‘Danh’ (nāma); nhưng ở đây ta chỉ nhắm tới những ǵ không thể tách biệt khỏi pháp bị các lậu hoặc ảnh hưởng đến [không phải những ǵ thuộc siêu thế, có nghĩa là vô lậu] được hiểu ở đây v́ đó chính là nhân duyên cho hành động ly tham. 13. Bốn Sắc Đại Hiển và toàn bộ các loại sắc xuất hiện nương vào bốn sắc đại hiển ấy được gọi chung là ‘sắc’ (=rūpa) hiểu theo nghĩa chúng đă trở nên biến dạng đi (ruppana). [16] Và toàn bộ những ǵ được hiểu ở đây. 14. Và theo như những ǵ ta hiểu ở đây, khi người ta nói ‘có hai pháp, ư muốn nói đến ‘Danh và Sắc’ đây không phải là thiếu vắng hai điều khác, theo như (Đức Phật) đă nói ‘Hỡi các vị tỳ khưu, khi một vị tỳ khưu đă hoàn toàn ly tham với hai pháp. Ngài trở thành một người có thể chấm dứt đau khổ [tại nơi đây và lúc này]. Hai pháp đó là ǵ vậy? Danh và Sắc: khi một vị tỳ khưu đă hoàn toàn ly tham với hai pháp này... ngài có thể chấm dứt đau khổ [tại đây và vào lúc này]. Chính v́ thế liên quan đến vấn đề này (Đức Phật) đă nói đến [trước đó:] hai câu hỏi, hai cách biểu thị, và hai câu trả lời’ (A. v. 51). 15. Và ở đây ngài chỉ chứng đắc ly tham thông qua môn [bao gồm có giải thoát môn] việc quán vô Ngă (xin đọc Vis.Ch. xxi §§ 66/ tr. 657), do đoạn trừ được Ngă Kiến thông qua quán chiếu duy chỉ có Danh và Sắc mà thôi. Và chính v́ thế cuối cùng ngài đă chấm dứt đau khổ và đạt đến mức thanh tịnh hiểu theo nghĩa tuyệt đối. Như (Đức Phật) đă xuất khẩu thành kệ như sau:
‘[Vả lại,] vô ngă cũng chỉ là các pháp: III- [Tīni nāma kim? Tisso vedanā.] Thế nào là Ba? – Ba loại cảm thọ. 16. Đến đây, sau khi bậc Đạo sư (Đức Phật) đă thấy hài ḷng về câu trả lời về câu hỏi ngài vừa nêu lên, liền đưa ra thêm một câu hỏi khác. Ba pháp là ǵ vậy? Theo cùng một phương thức như đă đưa ra trước đó. 17. Trả lời điều [số] ‘ba’ [được khẳng định dưới dạng từ trung tính ‘tīni’] vị Trưởng Lăo đáp lại đó là Ba loại cảm thọ, nhưng lại dùng từ con số [17] (tisso) ở dạng từ giống cái cho thích hợp với ư nghĩa được đưa ra trong câu trả lời. Hay ngược lại, ta có thể hiểu ở đây theo nghĩa ngài nói như sau: để cho thấy rằng ‘ tôi muốn áp dụng [từ ngữ] “số ba” (tīni) ư nghĩa này được chính Đức Phật diễn đạt với các từ sau: “Ba (tisso) loại cảm thọ” (xin đọc S. iv. 204)’ v́ cách thức giảng thuyết của ngài bao gồm nhiều khía cạnh áp dụng vào trường hợp những ai đă chứng đắc t́nh trạng tinh thông trong kinh bằng nhiều loại tuệ nhân tích. [18] Tuy nhiên, có một số người cho là tīni (số ba) lại là một từ vượt quá ư nghĩa thông thường. 18. Và cụm từ “ba loại cảm thọ” được khẳng định ở đây theo cách thức đă được chú giải (§§6, 13), không phải do thiếu vắng ba điều khác, theo như lời Đức Phật đă nói: ‘Hỡi các vị tỳ khưu, khi một vị tỳ khưu đă ly tham hoàn toàn được với ba pháp. Ngài sẽ trở thành người chấm dứt mọi đau khổ [ngay tại đây và vào lúc này] Ba điều đó là ǵ vậy? Đó là ba loại cảm thọ: khi một vị tỳ khưu ly tham được hoàn toàn với ba pháp này. . .ngài là người sẽ kết thúc được đau khổ [tại nơi đây và vào lúc này] Chính v́ liên quan đến điều này mà Đức Phật đă nói [đến trước đó] ba câu hỏi, ba cách biểu lộ, và ba câu trả lời’ (A.v. 51) 19. [80] Và ở đây ngài tiến tới ly dục thông qua môn [giải thoát gồm] quán chiếu khổ đế (đau khổ), đoạn trừ lạc thông qua thấy rơ toàn bộ những loại cảm thọ này chỉ là một trạng thái đau khổ. Và ngài thực hiện điều này bằng cách tuân thủ theo phương cách đă được biểu thị trong đoạn ‘Bất kỳ điều ǵ cảm nhận tất cả đều xuất phát từ đau khổ mà ra’ (S. ii, 53; iv. 216) hoặc theo [ba cách phân loại: đó là khổ đế, đau khổ do ái dục mà ra, và đau khổ do pháp hành mà ra. (S. iv. 259) như được khẳng định trong đoạn dưới đây:
‘Bất kỳ ai thấy lạc chỉ là đau khổ, Và chính v́ thế cuối cùng th́ ngài đă chấm dứt mọi đau khổ và chứng đắc thanh tịnh hiểu theo nghĩa tuyệt đối, theo như lời (Đức Phật) đă nói:
‘[và rồi] mọi pháp hành cũng chỉ là đau
khổ: IV - [Catāari nāma kim? Cattāri ariyasaccāni] Thế nào là Bốn? – Bốn Thánh Đế. 20. Rất hài ḷng với câu trả lời cho câu hỏi ngài đưa ra, chính v́ thế bậc Đạo Sư (Đức Phật) lại đưa ra một câu hỏi khác nữa như sau: Bốn pháp là ǵ vậy? Theo cùng một phương cách như câu hỏi ở trên. 21. Đến đây trong việc trả lời câu hỏi này, nơi một số trường hợp tứ thực được ám chỉ ở đây theo như cách đă được khẳng định trước đó (§§ 6, 13), theo như lời ngài đă nói ‘Hỡi các vị tỳ khưu, khi vị tỳ khưu đă ly tham hoàn toàn bốn pháp... ngài sẽ chấm dứt đau khổ (mọi nơi mọi lúc). Bốn pháp đó là ǵ? Tứ thực đó là: khi một vị tỳ khưu đă ly tham hoàn toàn bốn pháp.... ngài chấm dứt mọi đau khổ[mọi nơi mọi lúc]. Chính v́ thế liên quan đến vấn đề này, như lời (Đức Phật) đă đề cập đến [trước đó]: “Khi vị tỳ khưu ly tham hoàn toàn bốn pháp... ngài sẽ chấm dứt mọi đau khổ [mọi nơi mọi lúc], v́ điều liên quan đến vấn đề này nên ngài (Đức Phật) đă nói [trước đó:] Bốn câu hỏi, bốn cách biểu thị, bốn câu trả lời’ (A. v. 52); nhưng nơi những trường hợp khác, bốn niệm xứ [được hiểu] là, một khi đă tu tiến chúng trong tâm, ta có thể chấm dứt đau khổ, theo như Tỳ khưu Ni Kajangalā đă nói: ‘này chư vị , khi một tỳ khưu tu tiến hoàn toàn bốn pháp đó trong tâm của ḿnh.... sau khi đă đạt đến điều chính trực, người đó nhận ra mọi đau khổ kết thúc như thế nào [mọi nơi mọi lúc]. [81] Bốn pháp đó là ǵ vậy? Đây là bốn niệm xứ: khi một vị tỳ khưu đă hoàn toàn tu tiến được bốn pháp này.. . trong tâm rồi vị tỳ khưu này sẽ chấm dứt được đau khổ [mọi nơi, mọi lúc]. Chính v́ thế liên quan đến vấn đề này, chính Đức Phật đă nói: ‘bốn câu hỏi, bốn cách biểu thị, bốn câu trả lời’ (A. v.56) Tuy nhiên, để trả lời cho [số] ‘bốn’ vị Trưởng Lăo đă đáp lại đó là Tứ Diệu Đế, ở đây hoặc bởi v́ điều đă được hiểu ở đây chính là Tứ Diệu Đế, một khi đă khám phá ra và thông suốt hoàn toàn th́ ta chứng đắc đoạn trừ mọi ái hữu, hoặc giả đây là câu trả lời duy nhất [19] khi ta trả lời như vậy. 22. Ở đây, [con số] ‘bốn’ ám chỉ theo cách phân định ranh giới nhờ vào con số. Những Thánh Đế: (ariyasaccāni= ariyāni saccāni(tức là quyết tâm phức tạp); ư nghĩa ở đây là [tứ diệu đế này] hoàn toàn thiết thực, không hăo huyền, hoàn toàn không khác biệt như những ǵ [tứ diệu đế này thể hiện], chính v́ thế bốn chân đế này được gọi là ‘Tứ Thánh Đế.’ Như Đức Phật đă thuyết: Nầy các Tỳ khưu, bốn Thánh đế này là như thật, không phải không như thật, hoàn toàn không khác biệt như những ǵ chúng thể hiện, đó là lư do chúng được gọi là Thánh đế (S. v. 435). Hay nói cách khác, v́ chư Phật Toàn giác, các Độc Giác Phật, và các đệ tử của Đức Phật được liệt vào số những vị Thánh nhân (ariyā) và chính những vị này đă thâm nhập được các Chân Đế này, chính v́ thế họ phải được toàn thể thế gian kính lễ (aranīya)[20] như là các thiên giới – được đối sử một cách xác thực [21] chính là ư nghĩa ở đây. -, hay v́ [các chân đế này] tạo ra được những dáng điệu (tiến hành) như vậy (aye iriyanato) được coi như là nền tảng mọi cố gắng, hoặc giả v́ chúng không tạo ra được dáng điệu (không tiến hành) không phải là cách kính lễ như vậy (anaye na iriyanato: xin đọc MA. i. 21), hoặc giả v́ chúng tạo ra được việc hiến thân cho ba mươi bảy thánh pháp (ariya) thuộc giác ngộ, được gọi là ‘Thánh Đế” (ariya-saccāni), theo như lời Đức Phật đă nói ‘hỡi các vị tỳ khưu, Tứ Thánh Đế này là điều có thực,: [đó là Khổ Đế, nguồn gốc Khổ Đế, Chân Đế diệt khổ, và Chân Đế dẫn đến Diệt khổ] thực sự có Tứ Thánh Đế này. Các vị Thánh nhân một khi đă thấm nhuần được tứ diệu đế này, chính v́ thế các chân lư này được gọi là ‘Tứ Thánh Đế’ (xin đọc S. v. 425; Thanh Tịnh Đạo Ch. xvi §§20/tr. 495). Và hơn thế nữa, chúng cũng được gọi là Chân lư v́ cũng chính là chân lư của Đức Phật theo như ngài đă nói: ‘Hỡi các vị tỳ khưu, trên thế gian này gồm cả thiên giới... Như Lai (Tathāgata) chính là một vị Thánh Nhân. Chính v́ thế các chân đế này được gọi là ‘Tứ Diệu Đế’ (S. v. 435). Hay nói cách khác, chúng được gọi là Thánh Đế cũng do bởi việc thiết lập được điều thánh hạnh thông qua việc khám phá ra chúng, theo như lời Đức Phật đă nói: “Hỡi các vị tỳ khưu, chính do việc khám phá ra được Tứ Thánh Đế một cách thiết thực rơ ràng mà Đấng Như Lai được gọi là ‘Bậc A La Hán, và Đấng Toàn Giác.’ (S. v. 433) đây chính là ư nghĩa của các từ được chú giải ở trên. 23. Đến đây chính do việc khám phá và thâm nhập được các Thánh Đế này [82] mà đoạn trừ được ái hữu. Theo như lời Đức Phật đă nói: Hỡi các vị tỳ khưu, khi ta phát hiện ra khổ thánh đế này và thâm nhập được vào trong đó, khi khổ tập thánh đế.... khi diệt khổ thánh đế....khi phương cách dẫn đến diệt khổ được khám phá ra và thâm nhập vào được, th́ ái hữu bị cắt đứt, điều ǵ dẫn đến sanh hữu sẽ cạn kiệt, và đến đây chẳng c̣n tái sanh nữa. (S. v. 432) V- [Pañca nāma kim? Pañcūpādānakkhandhā] Thế Nào là Năm? - Năm Thủ Uẩn. 24. Chính v́ thế sau khi cảm thấy hài ḷng với câu trả lời câu hỏi của ḿnh, bậc Đạo sư (Đức Phật) lại đưa ra thêm một câu hỏi khác nữa, Năm pháp là ǵ vậy? cũng một cách tức như các câu hỏi trước đó. 25. Trả lời [câu hỏi số] ‘năm’ Vị Trưởng Lăo đáp lại “Đó là Ngũ thủ uẩn. 26. Ở đây, con số ‘năm’ (pañca) chính là phân định theo con số. Các thủ uẩn (upādānakkhandā) là ngũ uẩn xuất phát từ chấp thủ mà ra. Hay các uẩn là nhân tố phát sinh ra chấp thủ. [22] Đây là một từ được mô tả như sau: ‘Bất kỳ loại sắc nào... thọ nào... tưởng... hành... thức... chịu ảnh hưởng do các lậu hoặc mà ra là do chấp thủ mà có (S. iii. 47). 27. Và ‘ngũ thủ uẩn’ được khẳng định ở đây theo cách đă đưa ra (§6, 13), không phải v́ thiếu vắng năm điều khác, theo như Đức Phật đă nói: ‘Hỡi các vị tỳ khưu, khi một vị tỳ khưu đă hoàn toàn ly dục năm pháp.... ngài sẽ chấm dứt được mọi đau khổ [ở đây và lúc này]. Năm pháp đó là ǵ vậy? Đó là năm thủ uẩn: Khi một vị tỳ khưu đă hoàn toàn ly tham năm pháp.... Vị tỳ khưu này có thể chấm dứt đau khổ [ở đây và lúc này.] Chính v́ thế liên quan đến vấn đề này, Đức Phật đă nói trước đó: năm câu hỏi, năm điều biểu thị và năm câu trả lời. (A. v. 52). 28. Và ở đây một người hiểu rơ [23]ngũ uẩn do chúng sanh và diệt. Cuối cùng người đó thực chứng được bất tử Níp Bàn đạt được pháp bất tử bằng cách thiền quán. Theo như những ǵ (Đức Phật)đă nói:
‘người nào hiểu rơ ngũ uẩn’ VI - [Cha nāma kim? Cha ajjhattikāani āyatanānāni] Thế nào là Sáu? – Sáu Nội Xứ 29. Chính v́ thế sau khi cảm thấy hài ḷng với câu trả lời ngài đă đưa ra, bậc Đạo sư (Đức Phật) lại đưa ra một câu hỏi khác như sau: Sáu pháp là ǵ vậy? Cũng cùng một cách thức như trước đă nói. 30. Trả lời (câu hỏi số) sáu vị Trưởng lăo đáp lại: Đó là sáu nội xứ. 31. Ở đây, con số sáu (cha) chính là cách phân định theo con số. Chúng liên quan đến điều được nhắc đến ‘cá nhân ḿnh’ (ajjhatte niyttāni: xin đọc Panani, iv. 69) và xảy ra phụ thuộc vào tự riêng chính ḿnh, như vậy chúng là nội phần (ajjhattika). chúng là nền tảng (āyatanāni) v́ do đặc tính kích hoạt của nó (āyatanato). V́ chúng thuộc phạm vi nguồn gốc (āyatanato), và v́ đặc tính dẫn đến khởi động (āyatassa.... nayanato) đau khổ thuộc ṿng luân hồi (tái sanh) [24] [83] đây chính là định danh của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư. 32. Và chính là ‘sáu nội xứ’ được khẳng định ở đây theo cách thức đă nêu ra ở trên (§§6, 13) không phải do thiếu sáu pháp khác, theo như Đức Phật đă nói: “Hỡi các vị tỳ khưu, khi vị tỳ khưu nào hoàn toàn ly tham sáu pháp này... th́ chính ngài sẽ chấm dứt đau khổ [tại đây và vào lúc này]. Sáu pháp đó là ǵ vậy? Sáu nội xứ: Khi một vị tỳ khưu đă ly tham hoàn toàn sáu pháp...vị ấy là người chấm dứt đau khổ tại nơi đây và lúc này]. Chính v́ thế liên quan đến điều này như Đức Phật đă nói trước đó: sáu câu hỏi, sáu cách biểu thị, và sáu câu trả lời’. (A. v. 52). 33. Và khi một người đă hoàn toàn ly tham bằng cách nhận ra (sáu nội xứ đó) chỉ là rỗng không giống như ‘ngôi làng trống vắng: “hỡi các vị tỳ khưu, đó là định danh sáu nội xứ vậy. (S. iv. 174) [và do nhận ra sáu nội xứ này] là những điều trống rỗng và lừa dối, do tính chất không tồn tại như những bong bóng. ảo ảnh, v.v... cuối cùng đă chấm dứt đau khổ và vượt qua tầm nhắm của Tử Thần. Theo như lời Đức Phật đă nói:
‘Và ai nh́n trần thế này’ VII - [Satta nāma kim? Satta bojhangā] Thế nào là bảy? – Bảy Giác Chi. 34. Chính v́ thế sau khi cảm thấy hài ḷng với câu trả lời câu hỏi của ngài đặt ra, Đức Phật (bậc Đạo sư) lại đưa ra một câu hỏi khác nữa, Bảy pháp là ǵ vậy? 35. Đến đây cho dù bảy thức trú [25] đă được khẳng định trong chánh Kinh về những câu hỏi và trả lời (A. V. 53), tuy nhiên ngài Trưởng Lăo đă đáp lại là bảy giác chi, cho thấy những pháp này dưới ánh sáng của vị tỳ khưu đă chấm dứt đau khổ bằng tu tiến trong tâm bảy giác chi này. Và điều này cũng đă được chính Đức Phật xác định, theo như lời ngài nói như sau: ‘Hỡi các vị gia chủ, Tỳ khưu Ni Kajangalā là một bậc hiền triết vị tỳ khưu ni Kajangalā là bậc Đại Trí Tuệ. Nếu bạn hỏi tôi ư nghĩa của điều này, tôi sẽ cho bạn biết cùng một câu trả lời như Tỳ khưu Ni Kajangalā đă thực hiện vậy.’ (A. v. 58-9), [84], Tỳ khưu Ni Kajangalā đă trả lời điều đó như sau: ‘Hỡi các bạn, khi vị tỳ khưu đă tu tiến hoàn toàn bảy pháp trong tâm của ḿnh... ngài sẽ chấm dứt đau khổ ngay tại nơi đây và lúc này. Bảy pháp đó là ǵ vậy? Đó là thất giác chi: khi một vị tỳ khưu tu tiến trong tâm ḿnh bảy pháp đó, ngài sẽ chấm dứt đau khổ ngay tại đây vào lúc này. Chính v́ thế liên quan đến điều này Đức Phật đă phán: ‘bảy câu hỏi, bảy cách biểu thị, và bảy câu trả lời.’ (A. v. 57) đó chính là điều chúng ta nên hiểu như những ǵ Đức Phật đă xác định. 36. Đến đây con số bảy được phân định bằng con số, không chấp nhận ít hơn hay nhiều hơn mỗi một pháp nào. Thất giác chi là định danh trong những pháp bắt đầu với niệm. Đây chính là ư nghĩa của từ. (1) hoặc là ta có thể hiểu: đây là sự hài hoà giữa bảy pháp chúng ta đă được biết như: niệm, trạch pháp, tinh tiến, hỷ, khinh an, định, và hành xả, là những đức tính đối nghịch lại với nhiều cạm bẫy gồm có trong biếng nhác, phóng dật, đ́nh trệ, và chống lại (bỏ bê và nổi loạn) đam mê dục lạc và tự hành khổ hạnh, kiên định chủ trương đoạn kiến và thường kiến. Và nổi lên ngay sát na đạo hiệp thế và siêu thế. (xin đọc Sutta 117) một Thánh đệ tử giác ngộ (bujjhati) như vậy đây chính là giác ngộ (bodhi) - điều đáng nói ở đây là thức giấc lên từ cơn mê ngủ triền miên nơi các Phiền năo, hoặc giả ngài thâm nhập Tứ Thánh Đế, hoặc giả ngài chứng đắc tịch diệt – theo như lời Đức Phật đă nói: Vị nào khám phá ra giác ngộ tối thượng hoàn hảo bằng cách tu tiến thất giác chi’ (D. iii. 101) (2) Bằng không ta có thể hiểu như sau: thông qua đặc tính hài hoà các pháp thuộc dạng đă khẳng định ngài đă chứng đắc giác ngộ (bujjhati), như vậy vị thánh đệ tử cũng đạt giác ngộ. Như vậy (1) chúng là những giác chi (bojjh-anga) chính v́ chúng được coi như là các thành phần tính cách hài hoà nơi các pháp biết đến như ‘Giác ngo’ (bodhi), theo cách phân tích: tương tự các chi thiền và các chi đạo, hoặc giả chúng là các giác chi v́ chúng là các yếu tố thấy nơi vị thánh đệ tử đă được gán cho một từ rất thông dụng được gọi là ‘giác ngộ’ cũng giống vậy, hiểu một cách tương tự ta có thể nói, các yếu tố nghiêm khắc, yếu tố tinh thông, v.v... hơn thế nữa, ư nghĩa của từ giác chi nghĩa là yếu tố giác ngộ cũng c̣n được hiểu theo cách đă được khẳng định trong tập Vô Ngại Giải Đạo (Patisambhidāmagga) như sau: ‘Các giác chi’ đâu là ư nghĩa của từ ‘giác chi’? tức là chúng dẫn đến giác ngộ, như vậy đây là các giác chi; chúng duy tŕ t́nh trạng giác ngộ, chúng được phó mặc cho giác ngộ. Chính v́ thế chúng là những giác chi. (Ps. ii. 115) 37. Chính v́ thế bằng cách tu tiến thất giác chi phát triển chúng nơi bản thân, vị đệ tử sớm chiếm được phẩm chất đặc biệt ly tham hoàn toàn, nhờ đó ngài được gọi là vị đệ tử đă chấm dứt mọi đau khổ tại đây và lúc này. [85] và đây là điều Đức Phật đă nói: ‘Hỡi các vị tỳ khưu, bảy giác chi, nếu được tu luyện, và phát triển, sẽ dẫn đến nhàm chán toàn diện. Ly tham dục, dẫn đến tịch tịnh, thắng trí, và giác ngộ toàn diện, và cuối cùng là tịch diệt. VIII - [Aṭṭha nāma kim? Ariyo aṭṭhangiko maggo] Thế nào là Tám? – Thánh đạo tám ngành. 38. Chính v́ thế, hài ḷng với câu trả lời với câu hỏi ngài đă đặt ra, Bậc Đạo sư (Đức Phật) lại đưa ra một câu hỏi tiếp theo như sau: Tám Pháp là ǵ vậy? 39. Đến đây cho dù tám pháp thế gian [cụ thể là, lợi lộc, danh vọng, khiển trách, hạnh phúc và đau khổ] được khẳng định trong Chánh kinh về những câu hỏi và câu trả lời (A. v. 53), tuy nhiên Vị Trưởng Lăo trả lời đó là Bát Thánh Đạo (hay là Thánh Đạo Tám ngành), cho thấy những pháp tưởng nhờ đó vị tỳ khưu có thể chấm dứt đau khổ bằng cách nhập tâm của ḿnh. Nhưng v́ không có bất kỳ con đường nào ngoài tám yếu tố này, chỉ có tám yếu tố thánh đạo đó là đường lối phải thực hiện, mà kết quả là với tính tinh thông giáo lư ngài đă thiết lập được ư nghĩa khi ngài trả lời như ngài đă thực hiện thay v́ nói ‘Bát Chi Thánh Đạo’. Và ư nghĩa này và phương pháp này đă được Đức Phật khẳng định, theo như ngài đă nói: ‘Hỡi các vị chủ gia nhân, Tỳ khưu Ni Kajangalā ... là người cực kỳ thông minh, chẳng phải nhà ngươi đă chẳng hỏi ta ư nghĩa điều này hay sao, ta cũng phải đưa ra cùng một câu trả lời về điểm này như Tỳ khưu Ni Kajangalā đă trả lời vậy. (A.v 58-9) Tỳ khưu ni này đă trả lời điều này như sau: ‘Hỡi các bạn, khi một vị tỳ khưu đă tu tiến hoàn toàn tám pháp trong tâm của ḿnh... chính ngài đă chấm dứt đau khổ ngay tại nơi đây và vào lúc này. [Tám pháp đó là ǵ vậy? Đó là Bát Thánh Đạo: khi một tỳ khưu đă tu tiến hoàn toàn tám pháp nầy trong tâm của ḿnh, ngài cũng chấm dứt đau khổ ngay tại nơi đây và vào lúc này. Chính v́ thế liên quan đến điều này Đức Phật đă phán như sau: ‘Tám câu hỏi, tám cách biểu thị và tám câu trả lời.’ (A. v. 57) đây là lư do tại sao ư nghĩa này nên được hiểu như chính Đức Phật đă xác định. 40. Đến đây từ ‘Bậc thánh’ (ariya) có nghĩa là ‘dựa trên [26] những điều đó ta t́m thấy tịch diệt’ tức là Niết-bàn. Hơn thế nữa từ ‘bậc thánh’ (ariya) có thể được hiểu là sự xuất hiện từ xa (āraka) khỏi những Phiền năo (xin đọc MA. i. 21) như là ‘lư do chứng đắc bậc thánh’ và ‘chứng đắc Thánh quả’. Con đường này có tám chi, như vậy Thánh đạo này có tám ngành ‘(‘tám yếu tố’); và điều này phải được hiểu đơn giản như là chính các yếu tố v́ chúng không hề có bản chất [27] riêng rẽ có thể hiểu được bằng bất kỳ cố gắng nào nhằm phân tích điều đó ngoại trừ các yếu tố đó, cũng giống như trường hợp ‘quân đội gồm bốn thành tố.’ hay ‘âm nhạc có năm thành tố.’ Con đường này cũng t́m ra (maggati) được tịch diệt. Hay chính tự Con đường này đă vạch ra được, hoặc Con đường này, tiến hành diệt (mārento gacchati), như vậy, đây chính là Đạo (phải theo). 41. Một Tỳ khưu tu tiến đạo gồm tám chi này, được sắp xếp thành tám thành tố. [86] Diệt vô minh, tạo ra Minh, và thực chứng được tịch diệt. Và như vậy người này sẽ có khả năng chấm dứt đau khổ tại nơi đây và vào lúc này. Và Đức Phật đă nói về điều này như sau: “Hỡi chư vị Tỳ khưu, giống như thể râu một hạt gạo hay của hạt lúa ḿ được sắp đặt ngay thẳng, được ép bằng tay hay bằng chân, rất có thể tay hay chân sẽ bị xây sát và chảy máu – Tại sao thế? V́ râu hạt gạo đă được sắp đặt đúng đắn như vậy sẽ gây tổn thương làm rớm máu tay chân người đó. – Tại sao lại như vậy? V́ râu hạt lúa hay hạt lúa ḿ đă được sắp xếp như vậy. – v́ thế cho nên, “Hỡi các vị tỳ khưu, với chánh kiến được sắp xếp theo cách thức như vậy với tu tiến đạo được sắp xếp một cách đúng đắn như vậy, rất có thể một vị tỳ khưu sẽ diệt trừ vô minh, khiến cho minh sanh khởi, và chứng đắc tịch diệt’ (S. v. 10-1= 48-9; xin đọc A. i. 8). IX- [Nava nāma kim? Nava sattāvāsā] Thế nào là chín? – Chín nơi cư ngụ của các loại hữu t́nh. 42. V́ thế Bậc Đạo Sư (Đức Phật) hài ḷng với câu trả lời cho câu hỏi của ngài, liền đưa ra một câu hỏi tiếp như sau: chín pháp là ǵ vậy? 43. Trả lời (câu hỏi số) chín, Trưởng lăo đă đáp lại: Đó là chín hữu t́nh cư. 44.Ở đây, số chín, chính là phân định bằng con số. Các hữu t́nh:[điều này có nghĩa là] hoặc là những chúng sanh có hơi kệ được mô tả như phát xuất từ các uẩn được gắn kết với mạng quyền, đại loại là như vậy. [Các loài hữu t́nh] cư ngụ trong đó, như vậy chúng là những nơi cư ngụ. Nơi cư ngụ của các loài hữu t́nh (hữu t́nh cư):sattāvāsā = sattānam āvāsā (quyết định của tổ hợp) đây là đường hướng chung của lời giảng dạy. Nhưng theo nghĩa đây cũng là định danh của chín loại hữu t́nh, theo như đă nói: ‘Hỡi các người, có nhiều chúng sanh với thân h́nh khác nhau và với tưởng cũng khác nhau. Cụ thể là, nhân loại, một số chư thiên, và một số chúng sanh nơi khổ cảnh: đây là nơi cư ngụ đầu tiên của các hữu t́nh. Lại có sự khác nơi thân và thống nhất về tưởng, cụ thể như: các vị chư Thiên của Đại Phạm Thiên. Là người được tái sanh đầu tiên [như vậy] [28] đây là nơi cư ngụ thứ hai của các hữu t́nh. C̣n có các hữu t́nh hợp nhất với thân, và khác biệt nơi tưởng, cụ thể là các vị Quang âm thiên Ābhassara (tức là luồng ánh sáng): đây là nơi cư ngụ thứ ba của các hữu t́nh. Lại c̣n có các hữu t́nh có giống nhau về thân và giống nhau về tưởng, cụ thể như: các vị Biến tịnh thiên Subhakinna (tức là chói loà ánh vinh quang); đây chính là nơi cư ngụ thứ tư của các chúng sanh; lại c̣n có các chúng sanh không có tuởng, không thọ, cụ thể như là các vị trời vô tuởng: đây là nơi trú ngụ thứ năm của các hữu t́nh. Lại có các hữu t́nh có thể khắc phục hoàn toàn được những sắc tưởng [cả khi những đối ngại tưởng không xuất hiện, v́ không tác ư đến tưởng về khác nhau. [nhận thức được] hư không] [87] vô biên’ đă trải qua tái sanh nơi bản chất gồm Hư không vô biên xứ: đây là nơi cư ngụ thứ sáu của các hữu t́nh. Lại có các hữu t́nh, [nhờ khắc phục được hoàn toàn Hư không vô biên xứ. [lại nhận thức được] “thức vô biên xứ. Đă vượt qua được tái sanh nơi thức vô biên xứ; đây là nơi cư ngụ thứ bảy của các hữu t́nh. Lại c̣n có các hữu t́nh [khắc phục hoàn toàn được thức vô biên xứ,] lại nhận thức được ‘không có ǵ cả’ đă vượt qua được tái sanh nơi vô sở hữu xứ; đây là nơi cư ngụ thứ tám của các hữu t́nh. Lại có các hữu t́nh đă khắc phục được hoàn toàn vô sở hữu xứ đă vượt qua được tái sanh dựa trên bao gồm phi tuởng và phi phi tưởng xứ. Đây chính là nơi cư ngụ thứ chín của các hữu t́nh. (D. iii. 263). 45. Và cụm từ: ‘chín nơi cư ngụ của hữu t́nh’ được khẳng định ở đây theo cách đă được đưa ra (§§6, 14) không phải v́ thiếu vắng chính pháp khác, theo như lời Đức Phật: “Hỡi các vị tỳ khưu, khi một vị tỳ khưu đă ly tham hoàn toàn với chín pháp đó.... ngài là người sẽ chấm dứt được đau khổ [tại đây và lúc này]. chín pháp là ǵ vậy? Chín nơi cư ngụ của các hữu t́nh: khi một vị tỳ khưu ly tham được hoàn toàn chín pháp... th́ ngài sẽ là người kết thúc được đau khổ [tại đây và lúc này]. Chính v́ thế liên quan đến điều này Đức Phật đă nói đến [trước đó] như sau: chín câu hỏi, chính biểu hiện và chín cách trả lời. (A. v. 53). 46. Giờ đây v́ các từ ‘Chín pháp đă được am tường hoàn toàn. Chín pháp nào thế? Chín nơi cư ngụ của các hữu t́nh’ (D.iii. 288) ngài đă ly dục được với chín nơi ở của các hữu t́nh đó bằng cách coi đó chỉ là một pháp hành, loại bỏ tri kiến [29] nơi bất kỳ hiện trạng thuờng, lạc, tịnh, và ngă, thông qua trước tiên với biến tri như là điều ǵ đă được biết đến. [30] Thế rồi ngài sẽ biến tham dục của ḿnh phai tàn đi bằng cách quán đặc tính vô thường [nơi chúng] trở thành giải thoát do quán khổ năo [về chúng]và thấy hoàn toàn sự tiêu diệt [của chúng] do quán vô ngă về chúng thứ nh́ [thực hiện cả ba điều trên bằng cách thông qua biến tri như là cách phán đoán. Rồi ngài kết thúc đau khổ tại đây và lúc này bằng cách đạt chứng đắc chính trực. [31] Cuối cùng [làm như vậy] thông qua biến tri như là đoạn trừ [tà pháp.] Chính v́ thế Đức Phật đă nói: “Hỡi các vị tỳ khưu, khi một vị tỳ khưu ly tham hoàn toàn chín pháp. . . ngài chính là người chấm dứt được đau khổ ngay tại đây và lúc này. Chín điều ǵ vậy? là ‘chín nơi cư ngụ của các hữu t́nh’(A. v. 53) X - [Dasa nāma kim? Dasah’angehi samannnāgato arahā ti pavuccati.] Thế nào là mười? - Người nào có đủ mười đức tánh được gọi là vị A-la-hán. 47. Chính v́ thế Bậc Đạo sư (Đức Phật) tỏ ra hài ḷng với câu trả lời cho câu hỏi của ḿnh, liền đặt một câu hỏi khác Mười pháp là ǵ vậy? 48. Trong những câu trả lời trước kia khác với câu hỏi thứ mười này, Mười bất thiện nghiệp đạo (Thân: sát sanh, trộm cắp, tà dâm. Khẩu: nói dối, nói dâm thọc, chưởi rủa, nói lời độc ác. Ư: tham, sân và tà kiến) được đưa ra. Theo như điều Đức Phật đă nói: “Hỡi các vị tỳ khưu, khi vị tỳ khưu ly tham được với mười pháp... th́ ngài là người chấm dứt đau khổ ngay tại đây và lúc này. Mười pháp ǵ vậy? Mười bất thiện nghiệp đạo: khi một vị tỳ khưu ly tham hoàn toàn được với mười pháp này.... [88] th́ ngài chấm dứt đau khổ ngay tại đây và lúc này. Chính v́ có liên quan đến điều này mà ngài đă nói đến ở trên: mười câu hỏi, mười cách biểu thị, và mười câu trả lời.’ A. v. 54). Nhưng mặc dù có thể là như vậy, tuy nhiên ở nay, ngài khi dùng lời giảng dạy với cá nhân, đă trả lời lại Người nào có đủ mười đức tánh đó, th́ được coi như là bậc A La Hán, điều này cho thấy chứng đắc mười chi này, bằng cách có được điều mà vị A La Hán đă chứng đắc [th́ được gọi là bậc trọn lành]. Ngài làm được như vậy hoặc là do ngài muốn tuyên bố có được trí chung cuộc mà không phải tự trích dẫn chính ḿnh khi trả lời một cách như vậy nữa [32]. 49. Đến đây mười điều này nên được hiểu dựa theo như cách đă được khẳng định nơi những Kinh như sau: “Thưa Ngài, vô học, vô học’. Làm thế nào để một vị tỳ khưu được gọi là ‘vô học?’ – Ở đây, hỡi chư vị tỳ khưu, một vị tỳ khưu có được vô học chánh kiến, vô học chánh tư duy, vô học chánh ngữ, vô học chánh nghiệp, vô học chánh mệnh, vô học chánh tinh tấn, vô học chánh niệm, vô học chánh định, vô học chánh trí và vô học chánh giải thoát: chính v́ lư do này mà vị tỳ khưu được gọi là vô học’ (A. v. 221). Việc giải thích về Nam Tử Hỏi Đạo trong tập chú giải Tiểu tụng đă kết thúc.
-ooOoo-
[1] ‘Atthupatti – nhu cầu pháp sanh’ một từ kỹ thuật chú giải; một trong bốn lư do Đức Phật phát biểu Kinh này (suttanikkhepa) lấy ví dụ trong MA. I 15, ba nhu cầu pháp sanh nữa được coi như là attajjhāsaya (do khuynh hướng riêng của người phát biểu), parajjhāsaya (do khuynh hướng của thính giả) và pucchāvasika (là do kết quả của một câu hỏi được đưa ra. Xin đọc danh sách các từ khó ở cuối sách. [2] ‘Trí chung cuộc’ (aññā) là một từ ám chỉ trí của vị A-la-hán [3] Xin đọc là passato trong tiếng Cey. tiếng Miến và tiếng sanskrit. [4] Câu Sammā-samādhim …saparikkhāram (chánh định cộng với các trang bị) xin đọc trong A. iii. 71.’trang bị’ ở đây gồm bảy chi chánh đạo (được hiểu như là = chánh kiến). [5] Xin đọc yasmin cāyam āyasmā với tiếng Miến và tiếng sanskrit, tiếng Cey. viết là yasmin c’āyasmā. [6] ‘Puggalādhitthānaya desanāya – lời giảng thuyết bằng các từ về người: một từ kỹ thuật chú giải, xin đọc MA. i. 24. ở đây đối lại với từ dhammādhitthānadesanā (lời giảng thuyết theo thể các pháp không ngôi) Adhitthāna hiểu theo nghĩa này không thấy có trong P.E.D,; Xin đọc danh sách các từ khó ở cuối sách. [7] Xin đọc, được triển khai trong MA. i. 238, xin trích ‘ Với việc phát sanh vật thực, ở đó ta cũng thấy nổi phát sanh thân xác’ (S. I 184). Cách chú giải chính về vật thực (āhāra) xuất hiện trong tác phẩm M.A. I 207 tt. [8] . Cả tiếng Ce. Tiếng Miến và tiếng sanskrit đều xác định là sammattam. Lời ám chỉ này thực sự áp dụng cho việc nhập lưu (được gọi là ‘chính trực’ xin đọc n. 31 dưới đây) và bậc A-la-hán (được gọi là kết thúc đau khổ’) [9] . Tứ thực là: đoàn thực thô và tế; xúc thực; tư thực, và thức thực ( M. I 48 và 261). [10] . Có nghĩa là thiếu vắng bất kỳ một trong sáu nhân : tham tham, sân hận, Si mê (delusion) vô tham, vô sân, vô vô si. [11]. ‘Upacāra – ẩn dụ’ không thấy có trong P.E.D,Xin đọc danh sách các từ khó ở cuối sách. [12] . ‘Khandhe upādāya paññapetabbato – v́ được mô tả tùy thuộc vào các uẩn’: ám chỉ đến upādā-paññatti) được nêu ra trong tập chú giải về Puggala-paññatti Bộ phận chế định paññatti thường được dịch là chế định hay ‘khái niệm’ tuy nhiên một từ không được cố ư nhấn mạnh ở đây, có lẽ bản dịch này không chính xác. [13] . Đọc là seyyathāpi thay v́ sesāni trong cả bản dịch tiếng Ce. Tiếng Miến và tiếng sanskrit. [14] ‘Theriya (therikā) – thuộc về truyền thống Trưởng Lăo’ (có nghĩa là, thuộc phái Nam Tông): không thấy nói đến trong P.E.D,; Xin đọc Ch. v. § 23 dưới đây, xin đọc trong lời bạt tác phẩm Thanh Tịnh Đạo. [15]. ‘Cúi xuống’ và ‘việc huớng theo’ (hay là suy nghĩ và ‘sự suy nghĩ) lần lượt được dùng để dịch từ namana và từ nati ở đây, được coi như là cách dùng để mô tả phận sự cuả tâm ‘thuộc về danh’ (bằng cách suy nghĩ về) hay nhận thức rơ ra’ đối tượng, và chính v́ thế được tạo thành. Với sự trợ giúp của tâm sở (cetasikā) đây chính là trạng thái và đặc tính cá nhân tính của sự kiện nhận thức. Xin cũng đọc thêm ‘tâm này trở lại’ (S. ii. 103-4). Cách dịch là ‘cúi xuống’ đă quá nhấn mạnh đến cách sử dụng phi ẩn dụ và hơi có vẻ tối nghĩa ở đây. [16] . Xin đọc S. iii. 86. [17] ‘Sankhyā – con số’: h́nh thức này không thấy có trong bản dịch P.E.D.; vedanā cảm thọ là từ giống cái. [18] Dùng cho ‘bốn tuệ phân tích’ (patosambhidā) xin đọc Ch. v. § 38; Thanh Tịnh Đạo tr. 440 [19] Xin đọc bản dịch Ce, và Phạn vyāakatam suvyāakatam eva. [20] ‘Araniiya – phải được kính lễ’; không thấy có trong bản dịch P.E.D.; xin đọc trong bản danh sách các từ khó ở cuối sách. Xin đọc thêm ariiyati trong Thanh Tịnh Đạo tr. 440 cũng không thấy có trong bản dịch P.E.D; trong cuốn tự diển Trencker Critical Pali Dictionary lại ghi là ‘tiến lại gần’) [21] Abhigamanīya- phải lệ thuộc vào’: cũng không thấy có trong bản dịch P.E.D; xin đọc trong bản danh sách các từ khó ở cuối sách [22] Janaka – người sinh ra’ (hay là ‘người cha’; không thấy có trong bản dịch P.E.D; xin đọc trong bản danh sách các từ khó ở cuối sách | |