|
Bản Pāli ngữ: Bhadantācariya Buddhaghosa PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
CHƯƠNG III BA MƯƠI HAI THỂ
l. Giờ đây chúng ta bắt đầu với đề mục thiền gồm ba mươi hai thể trong thân con người, là một chuyên luận bàn về tu tiến định, v.v... bằng cách tận dụng những phần trong thân để Niệm Về Thân (M. Sutta 119); Vis. Ch. viii). [38] Khi một thiện nam tử đă thành tựu giới hạnh và đă thanh tịnh được những phương tiện bằng cách thực hành Thập Giới theo như cách chúng ta đă khẳng định ở trên, đề mục thiền này có mục đích thanh tịnh mục đích của người đó, cũng nhắm đến tu tiến tâm thiện. Đề mục thiền này chưa bao giờ được công bố trừ ra sau khi Đức Phật đă xuất hiện và đề mục thiền này lại nằm ngoài phạm vi của bất kỳ môn phái nào. Đức Phật đă ra lệnh thực hiện các đề mục thiền này bằng nhiều cách trong nhiều đoạn Kinh khác nhau như sau‘nầy chư Tỳ khưu’ khi một pháp được thực hành và tu tiếp dẫn đến nhiều tác dụng, có lợi rất nhiều, và nhận được sự an toàn tuyệt đối khỏi kiết sử và nhiều chánh niệm, được tỉnh giác hoàn toàn, đạt được tri kiến. Hiện tại lạc trú, chứng quả minh và giải thoát. Một pháp đó là ǵ vậy? Đây chính là thân hành niệm.’(. I. 43). Và như vậy ‘các vị Tỳ khưu’ người nào chưa nếm được thân hành niệm. Người đó chưa nếm bất tử. [Người nào thưởng thức thân hành niệm là người đó nếm được bất tử]. Họ đă nếm thử ... đă dể duôi... đă không dể duôi.... họ đă bỏ lỡ cơ hội... họ đă thấy bất diệt và đă biết được thân hành niệm ra sao’ (A. i. 45).và thiền định này đă được truyền lại như sau ‘Hỡi các vị tỳ khưu, bằng cách nào một tỳ khưu tu tiến thân hành niệm được?... c̣n nữa, hỡi các vị tỳ khưu, một vị tỳ khưu nh́n vào thân thể của ḿnh từ gót chân trở lên và từ đỉnh đầu trở xuống và nhận ra bên trong lớp da bọc thân đó có biết bao nhiêu loại ô uế nhơ bẩn được kể ra như sau: [atthi imasmim kāye kesā lomā nakhā dantā taco mamsam nahāru atthi atthiminjam vakkam hadayam yakanam kilomakam pihakam papphāsam antam antagunam udariyam karīsam pittam semham lohitam sedo medo assu vasā khelo singhānikā lasikā muttam) trong thân này gồm có tóc, lông, móng, răng, da; thịt, gân, xương, tuỷ xương, thận; tim, gan, hành cách mô, lá lách, phổi; ruột già, ruột non, bụng, phân; mật, đờm , mủ, máu, mồ hôi, mỡ đặc; nước mắt, mỡ lỏng, mủ, nước miếng, nước mũi, chất nhờn ở khớp, nước tiểu’ (M, iii. 90) và [matthake matthalungam] ‘năo trong đầu’ (xin đọc Ps. 6-7) kể cả ‘năo’ trong ống xương như ta thấy nói đến trong nhiều văn cảnh khác nhau.[trong đó xuất hiện đoạn mô tả này]. Vậy dưới đây là bài chú giải về ư nghĩa của thiền chi đó (đề tài thiền). 2. Trong tài liệu này, có nhiều cách cho là đă được biết đúng như sự thật. Trong điều này, nơi điều này, được diễn tả như sau ‘từ gót chân trở lên và từ ngọn tóc trở xuống và những ǵ có dưới làn da đều chứa rất nhiều điều ô uế... Thân: là một sắc thân chất; chính v́ là một sắc thân ta gọi là ‘thân xác’(kāya) v́ thân xác này là một sự cố kết thành khối rất nhiều những điều ô uế.’ Chính v́ những điều ghê tởm (Kucchita) như là tóc trên đầu, v.v...lại có xuất xứ nơi thân xác này. (āya) 2. Tóc,... đến năo: toàn bộ những thứ này bắt đầu với tóc trên đầu gồm tới ba mươi thể [cấu thành trong thân]. Việc cấu tạo nên những thành phần này nên được hiểu theo cách này: Trong thân xác này có tóc, có lông. 4. [39] Những thành phần này muốn nói lên điều ǵ vậy? Đó là không có ai nghiên cứu một cách khẩn trương toàn bộ thân xác này từ bàn chân trở lên, bắt đầu từ trên đỉnh đầu trở xuống và bắt đầu từ làn da bao bọc chung quanh, lại t́m ra được bất kỳ một phân tử nguyên chất nào cả, như một viên ngọc, hay một pha lê, hay bê-rin, hay dầu lô hội hay gỗ giáng hương hay nghệ tây, long năo, bột tan v.v...trái lại, người đó chẳng nh́n thấy ǵ hơn là toàn bộ những thứ ô uế sặc mùi hôi thối rất đáng sợ gồm tóc trên đầu, lông trên ḿnh, và nhiều điều c̣n lại. Đây chính là bài chú giải đầu tiên về cấu trúc các từ ở đây. 5. Hiện giờ ta nên hiểu tập chú giải này như sau theo như cách tu tiến đề mục bất định [52] [trước khi xử lư đến những ǵ liên quan đến màu sắc hay các đặc tính khác]. 6. [Khi một thiện nam tử], với tư cách là người mới bắt đầu học đă thanh tịnh xong các phương tiện của ḿnh bằng cách thành tựu giới hạnh chia ra thành thực hành thập giới, kiêng không sát sanh và những điều c̣n lại. C̣n muốn tự tham gia vào việc tu tập đề mục thiền định gồm ba mươi hai thể cấu tạo nên thân xác. Cảm thấy ḿnh có những trở ngại gồm chỗ ở, thân tộc, tài sản, giai cấp, [đệ tử] [giám sát xây cất nhà cửa] một cuộc hành tŕnh dự kiến, họ hàng thân thuộc, sách vở, hay bệnh tật, cùng với những trở ngại về năng lực thần thông hay trở ngại về tiếng tốt, làm nên mười loại trở ngại (xin đọc Vis. Ch. iii,.§29/tr. 89). Giờ đây mười trở ngại này nên được cắt bỏ bằng cách loại bỏ những lo lắng về chỗ ở, về bộ tộc, về của cải, giai cấp, họ hàng, danh tiếng, bằng cách không quan tâm đến công việc xây cất nhà cửa, đến những chuyến du hành, và về sách vở và bằng cách chữa trị bất kỳ bệnh tật nào. Thế rồi đang khi người đó đă cắt bỏ những trở ngại mà không cắt bỏ tính hăm hở từ bỏ, trong khi đó lại chẳng bao giờ từ bỏ tư cách giới đức được ghi trong Luật (Vinaya) liên quan đến đến những điều luật nhỏ nhen [53] bằng cách theo đuổi một cách sống được [kiềm chế] do việc tự khép ḿnh [54] để đạt đến tột đỉnh cuộc sống đem lại. Theo cách hành động hợp với những chỉ dẫn trong Luật (Vinaya) [55] Người đó nên tiếp cận với một đạo sư là người sẽ giao cho ḿnh một đề mục thiền và vị đạo sư này được coi như là người có những phân tích đặc biệt về ‘Kinh’ và ‘vạch dấu’ [56] hay do vị đạo sư này có được một hay vài chi trong số những chi cần thiết. Và thiền sinh nên làm quen với ư định [học hỏi đề mục thiền sau khi ngài đă làm quen trong việc thực hiện những bổn phận [đă được qui định] đó. 7. Vị đạo sư nên nắm rơ những tướng và những khuynh hướng của chính ḿnh, cả về tính khí và ḷng quyết tâm nếu như đề mục thiền này thích hợp với đệ tử của ḿnh, nếu thấy điều này thích hợp, vị đạo sư có thể ban cho đệ tử [đề mục thiền này] ngắn gọn từng phần một. Nếu như đệ tử đang cư trú cùng với đạo sư trong cùng một ngôi chùa; [40] hoặc nếu đệ tử muốn cư trú tại một nơi nào khác, [đạo sư] có thể chú giải thiền chi đó cho đệ tử đến từng chi tiết [thẳng thắn, chỉ ra] bằng cách giải thích những ǵ phải loại bỏ, những ǵ phải nhận rơ, v.v... giải thích mục tiêu và chỉ cho thấy thông qua chú giải về điều ǵ thích hợp với tánh tham dục, v.v...và cách phân loại tính khí này. 8. Khi đệ tử đă được học về [bản văn] đề mục thiền, cùng với mục tiêu và cách phân loại đề mục đó, rồi khi đă được phép của đạo sư, đệ tử mới có thể đi đến sống ở một nơi khác. Khi đệ tử xử lư như vậy nên tránh không được đến cư ngụ tại mười tám địa điểm được cho là phải xa lánh như sau:
Một nơi rộng răi, một nơi ở mới Và đệ tử nên dừng chân ở một nơi nghỉ ngơi có năm yếu tố được mô tả như sau: ‘Và nơi dừng chân có năm chi là như thế nào hỡi chư vị tỳ khưu? Đây hỡi chư vị tỳ khưu, (1) một nơi cư trú không quá xa cũng không quá gần [với nơi lui tới khất thực] và có lối đi về thuận tiện.(2) Một nơi ít lui tới vào ban ngày và vào ban đêm, một nơi có ít tiếng ồn cũng như tiếng nói ồn ào. (3) Ít tiếp xúc với con ṃng, ruồi muỗi, gió, không quá nắng gắt, và những loài cây ḅ. (4) Người nào sống trong nơi nghỉ đó có thể dễ dàng kiếm được áo mặc, của ăn bố thí, có nơi nghỉ và những nhu cầu thiết yếu cộng với thuốc men để trị bệnh. (5) Ở nơi nghỉ đó cũng là nơi trụ tŕ của các tỳ khưu cao niên, có kiến thức, am tường Kinh ǵn giữ Chân đế, giới luật, cũng như các qui định [57] và thỉnh thoảng có ai đặt ra cho họ những câu hỏi “Lạy Ngài. Điều này là ǵ đây? Điều kia mang ư nghĩa ǵ?” Th́ lúc đó các vị ḥa thượng sẽ sẵn sàng tiết lộ những ǵ chưa được tiết lộ, giải thích những ǵ chưa được giải thích, và loại bỏ nghi ngờ về nhiều pháp nổi lên nghi ngờ. Hỡi chư vị tỳ khưu, đây chính là nơi an tịnh có năm chi đó.’ (A. v. 15) 9. Khi đệ tử đă thực hiện toàn bộ nhiệm vụ [liên quan đến bữa ăn, v.v...] đệ tử phải xét lại mối nguy cơ về những tham dục và phước lành trong việc diệt dục và đệ tử nên thấm nhuần tâm ḿnh với ḷng tin cậy bằng cách suy ngẫm đến Đức Phật thực sự đă giác ngộ Diệu pháp như thế nào.[41] và thực sự thành lập Tăng Già một chánh đạo thực sự là như thế nào. 10. Rồi sau đó đệ tử có thể làm việc tu tiến về 32 thể mà không rời xa khỏi bảy tài khéo kiến thức đă được khẳng định dưới đây:
Cả về lời nói lẫn nhập tâm Hoặc trích từ bảy loại khéo [58] tác ư được khẳng định như sau: (1) tuân thủ giới luật Tăng Đoàn.(2) không quá nhanh, (3) không quá chậm, (4) nên tránh né phân tâm, (5) vượt qua cách mô tả, (6) bằng cách từ bỏ, (7) thông qua an chỉ định (v.v..) với ba Kinh đă ghi’. Chỉ bằng cách này chứ không c̣n cách nào khác một người mới bước vào đường tu luyện Giáo pháp có thể tu tiến ba mươi hai thể. 11. Về điểm này, xuất phát từ khởi điểm bắt đầu với “Nhóm năm Da” nên được đề cập đến đầu tiên, ngay cả trong trường hợp một người nào đó đă thông hiểu toàn bộ Tam Tạng và nên được tụng thuận ngay đoạn bắt đầu với ‘tóc, lông,... và khi đă quen, tụng quay trở lại với ‘da, răng... và khi đă thành thạo, áp dụng lại cả hai cách, tiến tới rồi lại quay trở lại từ đầu. [Việc tụng kinh này nên được thực hiện bằng đọc to nhằm mục tiêu cắt đứt nhưng tư tưởng biểu lộ ra bên ngoài để làm quen được với bản văn Kinh và nên thực hiện một cách nhập tâm để có thể nhận thức rơ những bản chất cá nhân về những thành phần cơ thể đó; và điều này nên được duy tŕ một khoảng thời gian khoảng độ nửa tháng; đối với việc tu tiến về bằng lời nói để cắt đứt những tư tưởng biểu lộ ra ngoài, là điều kiện cho tâm tu tiến thông qua làm quen với bản văn. Đang khi tâm tu tiến về bản chất được coi là điều kiện để nhận thức rơ các thành phần cơ thể bằng cách hoặc là coi đó như là điều bất định hay nghiền ngẫm về màu sắc hoặc trạng thái của các thành phần thân đó. 12. Tiếp theo đến phần Nhóm năm về Thận cũng nên được triển khai cùng một cách trong ṿng nửa tháng, sau khi cả hai nhóm năm đă được triển khai trong ṿng nửa tháng. Rồi sau đó đến nhóm năm thuộc về phổi nửa tháng nữa. Tiếp theo sau đó, sau khi đă gộp cả ‘bộ năo’ [ngay sau ‘phân’] v́ cho dù đă được đề cập đến vào cuối [trong vô ngại giải đạo = Patisambhidamagga], tuy nhiên điều này nhằm mục đích tu tiến đề mục thiền cùng với địa giới c̣n lại ở đây. (xin xem M. i. 185) – Nhóm năm năo bộ nên được nghiền ngẫm tương tự như vậy khoảng độ nửa tháng; sau đó bốn nhóm năm c̣n lại vào khoảng nửa tháng nữa. Tiếp theo sau đó là nhóm lục mỡ béo khoảng độ nửa tháng. Sau đó là năm nhóm năm cùng với nhóm lục mỡ béo độ nửa tháng nữa. Tiếp theo sau là nhóm lục nước tiểu nửa tháng, sau đó toàn bộ ba mươi hai thể vào khoảng độ nửa tháng nữa. 13. Tu tiến đề mục thiền trong ṿng sáu tháng như đă được khẳng định theo cách này, tiếp theo sau với cách định nghĩa về màu sắc, h́nh thái, phương hướng, địa điểm và loại bỏ, được chỉ định cho một người có hiểu biết trung b́nh. [42] Điều này nên được tu tiến ngay sau khi đem lại thành công nơi người có hiểu biết cao hơn. Cho đến khi nào c̣n sống. 14. Ở đây thắc mắc có thể nổi lên: Nhưng ta phải định nghĩa như thế nào về ba mươi hai thể liên quan đến màu sắc v.v...? Khi người đó quyết định tu tiến đề mục thiền gồm ba mươi hai thể với cách phân chia bắt đầu từ Nhóm năm Da. theo cách thức bắt đầu như sau: ‘Trong thân nầy có tóc ... [rồi người đó định rơ như sau:] 15. (1) Người đó định nghĩa tóc trên đầu trước tiên có ‘màu đen’ hay có mầu tóc nào đó như người này đă nh́n thấy, và qua h́nh dáng như: ‘dài và tṛn như là cây thước đo vải.’. người đó định nghĩa tóc theo phương hướng như cách sau đây: ‘V́ những ǵ ở từ trên mũi trở lên là hướng thượng nơi thân và những ǵ từ mũi trở xuống được gọi là hướng hạ. Như vậy tóc được t́m thấy ở phần trên cơ thể. Người đó định nghĩa tóc theo địa điểm như sau: tóc được t́m thấy ở ngay phần bên trên da đầu được xác định ngay phần trán, ngay phần góc tai và ngay sau gáy. Về điểm này, giống như những cọng cỏ Kunta trên đỉnh hang kiến không biết được. ‘Chúng ta thấy trên đỉnh tổ kiến, chính tổ kiến đó cũng không biết được có cọng cỏ kunta này ngọn cỏ Kunta mọc trên tôi cũng vậy, tóc khô người biết. ‘Chúng ta xuất hiện trong phần ẩm ướt nơi da dầu” “ngay phần ẩm ướt nơi da đầu cũng không thể biết được, ‘Tóc thấy mọc trên tôi.’ V́ đây chỉ là những pháp không có liên quan lẫn nhau cũng như được rà soát lại, những tư tưởng này thuộc dạng không thể biết được, thực sự không thể khai báo được, chỉ là hư không, là ghê tởm và đáng ghét, chính do đặc tính sặc mùi hôi thúi nơi chúng, không phải là một chúng sanh, không phải là một con người,’ bằng cách phân định ranh giới: có hai cách phân định ranh giới, cụ thể là, thông qua điềm tương đồng và điểm khác biệt.Ở đây ngài đă định nghĩa chúng theo cách phân định tương đồng như sau: ‘Tóc trên đầu được xác định nhờ vào bề mặt của phần da ẩm ướt phía trên đó tóc, găm vào và chính gốc tóc được găm chặt vào lớp nội biểu b́ sâu độ bằng một hạt gạo trên phần da đó; mỗi sợi tóc đều được phân định trên phần không gian đó và xung quanh các sợi tóc khác. Đây là cách phân định theo cách tương đồng.’ Ngài lại phân định những sợi tóc trên đầu theo cách khác biệt như sau: ‘Các sợi tóc trên đầu không phải là thành phần c̣n lại trong ba mươi mốt thể, phần c̣n lại trong số ba mươi thể không phải là tóc trên đầu’ trước tiên đây là điều cho thấy tại sao ngài lại định nghĩa tóc trên đầu theo mầu và những ǵ c̣n lại. 16. (2) Ngài định nghĩa lông, nơi những ǵ c̣n lại. bằng màu sắc như sau: ‘đa số lông đều có mầu đen’ hay theo những mầu lông chúng ta nh́n thấy. Thông qua h́nh dáng như: lông có h́nh dáng một sợi dây cung nỏ’ hoặc như thể ‘ sợi dây dừa cong ở một đầu, [59] qua định nghĩa theo phương hướng, ta thấy lông ‘trong hai phương hướng’ “địa điểm” ngoại trừ ḷng bàn tay và ḷng bàn chân lông được t́m thấy hầu như [43] khắp nơi, được găm trên lớp biểu b́ trên toàn phần thân con người. Và về điểm này, tương tự như cỏ dabba được thấy mọc ở phân bên cạnh ngôi làng không biết được ḿnh mọc ở đó,’ th́ bên ngôi làng cũng không thể biết được có cỏ dabba mọc ở đó. “Cỏ dabba được mọc trên sườn làng tôi’ cũng vậy, lông trên thân cũng không biết được ‘chúng tôi mọc ở phần nội biểu b́ nơi thân thể như vậy”. Ngay cả phần nội biểu b́ của phần thân thể cũng không biết được ‘có lông mọc trên tôi.’ V́ đây chỉ là những pháp không có liên quan lẫn nhau, cũng không biết duyệt xét, không thể nhận thức được.[thực sự] không thể xác định, toàn bộ chỉ là rỗng không, đáng ghê tởm và gớm ghiếc do đặc tính nặc mùi hôi thúi của nó, không phải là chúng sanh, cũng không phải là một con người.’ Ngài đă định nghĩa chúng thông qua phân định ranh giới như sau: ‘Chúng được phân định ranh giới: mỗi loại được xác định mọc ở dưới bề mặt lớp nội biểu b́ được găm lên đó và v́ chính gốc tóc được gắn vào một số likkhā; [60] các sợi da này được phân định bằng không gian, và xung quanh mỗi sợi khác. Nhưng việc phân định ranh giới theo cách khác nhau cũng giống như các tóc trên đầu.’ Đây chính là cách ta định nghĩa da thông qua mầu và những ǵ c̣n lại. 17. (3) Tiếp theo sau đó ngài định nghĩa về móng, có số lượng toàn bộ là hai mươi cả thẩy, về màu sắc, tất cả đều có mầu trắng nơi phần găm với thịt và có mầu đồng là nơi nó tiếp giáp với thịt’ ngài định nghĩa móng tay thông qua h́nh dáng và vị trí chúng được gắn vào. Hầu hết móng tay móng chân đều có h́nh hạt quả madhuka hoặc có h́nh vẩy cá’; ngài định nghĩa chúng bằng phương hướng với hai hướng,’ và theo vị trí ‘chúng được găm vào đầu ngón tay và đầu ngón chân.’ Và ở đây cũng giống như những hạt quả madhuka được lũ con nít trong làng gắn vào đầu cây sào không biết được ‘chúng ta được găm vào cây xào,’ cũng vậy móng tay móng chân cũng không thể biết được ‘Các hạt quả madhuka được găm vào phần đầu chúng ta.’ Cũng vậy móng không hay biết được ‘chúng ta mọc ở đầu ngón tay và đầu ngón chân,’ cả ngón tay và ngón chân cũng không biết, ‘có móng tay móng chân găm ở phần đầu chúng ta’, v́ đây chỉ là những pháp không có sự liên quan và cân nhắc lẫn nhau. Móng tay móng chân không phải là con người. . .’ngài lại định nghĩa chúng bằng cách phân định ranh giới như: ‘chúng được phân ranh: phần dưới gắn vào phần thịt ngón tay ngón chân và phần trên tại đầu bịt hai bên là phần da móng tay móng chân. Đây là cách phân định ranh giới qua giống nhau. Nhưng phần phân định khác biệt cũng giống như cách phân định được áp dụng với tóc trên đầu . v.v...’ Đây là cách ngài định nghĩa móng tay móng chân qua màu sắc và những ǵ c̣n lại. 18. (4) Kế tiếp ta khảo sát đến răng. Toàn bộ răng gồm ba mươi hai chiếc cho những ai đă có đầy đủ số răng. Về màu sắc của răng ‘gồm toàn mầu trắng,’ về h́nh dáng giống như h́nh lưỡi chai cắt bằng lưỡi cưa. [44] và lại giống như những búp hoa cột vào một ṿng hoa, c̣n đối với những ai có hàm răng không đều th́ có h́nh dáng khác nhau như một hàng ghế được kê trong một pḥng khách cũ kỹ. Khảo sát từng cặp răng ở hàm trên và hàm dưới ta thấy ở tận cùng cả hai hàm, có tám chiếc răng chia thành bốn đầu nhọn và có bốn chân, và có h́nh như chiếc ghế băng; kế bên những chiếc răng đó có những chiếc răng xếp theo bộ, là tám chiếc đầu tẽ làm ba, ba chân và có h́nh dáng như những chiếc ghế ba chân. [61] Khảo sát răng từng chiếc một: ở hàm trên cũng như hàm dưới ở phần gần cũng như phần xa răng được sắp xếp theo thứ tự nhất định. Bốn chiếc có hai đầu nhọn, hai chân và h́nh dáng giống như các toa xe gắn lại với nhau; kế bên sắp xếp theo cùng thứ tự là bốn chiếc răng có một đầu nhọn, một chân giống như bốn ngà voi và có h́nh dạng như búp hoa nhài (jasmine) Tiếp theo ta có bốn chiếc ở hàm trên và bốn chiếc ở hàm dưới ở giữa cả hai hàm vị trí có tám chiếc răng cửa có một đầu nhọn và một chân h́nh dáng giống như hạt bí ngô.’ Ngài định nghĩa theo phương hướng như sau: Răng mọc theo hướng thượng.’ Và theo vị trí th́ những chiếc răng ở trên xếp thành hàng trên xương hàm trên chỉa đầu xuống, đang khi đó các răng ở hàm dưới lại hướng lên trên. Và ở đây, giống những cây cột được người xây dựng gắn lên lớp đá bên dưới và gắn vào bên trên không biết’ chúng tôi được gắn lên lớp đá bên dưới và gắn vào lớp trên” cả lớp đá phía dưới cũng không biết, ‘có những cây cột được gắn trên tôi’ lớp đá phía trên cũng không biết có những cây cột được gắn trên tôi chính v́ vậy răng không biết được, “Chúng tôi được gắn lên xương hàm trên và xương hàm dưới” cũng như xương hàm trên và xương hàm dưới cũng không biết là “có những chiếc răng được gắn trên chúng tôi.” V́ đây chỉ là những pháp không có liên quan hỗ tương, hay biết xét duyệt lẫn nhau, những chiếc răng này... không phải là con người.’ Ngài định nghĩa theo cách phân định ranh giới như sau: Ở phần dưới được phân định: răng được găm vào xương hàm dưới, và trên bề mặt chân răng găm vào xương hàm. Ơ phần trên, và xung quanh mỗi chiếc răng, được phân định theo các tương tự nhau; nhưng phân định theo cách khác biệt cũng tương tự như những ǵ đă phân tích về tóc trên đầu v.v...’ đây cũng là cách ta phân tích răng theo màu sắc và những ǵ c̣n lại. 19. (5) [45] tiếp theo sau đó ngài định nghĩa đến da. Da che phủ toàn bộ khối kết các loại rác rến dơ bẩn [62] khác nhau bên trong cấu h́nh thân thể. Xét theo màu sắc, da có mầu trắng; ngay cả có chút ít khác biệt nơi mỗi người: với mầu đen hay hơi ngăm đen v.v... do chúng được nhuộm bằng phần bên ngoài biểu b́. Tuy nhiên thực chất chúng vẫn có mầu trắng. Phần mầu trắng này sẽ hiện rơ khi phần biểu b́ bên ngoài bị phá huỷ do cháy nắng, hay bị ảnh hưởng do tiếp xúc với ngọn gió v.v...’ ngài định nghĩa hành dạng như sau: ‘Da có h́nh dạng như là một chiếc áo đựng thư. Nhưng chi tiết th́ có nhiều h́nh dáng khác nhau’ v́ da bao bọc ngón chân th́ có h́nh dáng như tổ kén con tằm, da ở phần dưới bàn chân lại có h́nh dáng như chiếc giầy gắn ở phần trên; da ở bắp chân có h́nh dạng như là những chiếc lá thốt nốt đựng cơm; da ở bắp đùi có h́nh dáng như một bao bố đựng đầy lúa; da ở mông có h́nh dáng một miếng vải lọc chứa đầy nước; da ở lưng có h́nh dáng một miếng da sống căng trên một tấm ván. Phần da ở bụng có h́nh dáng một miếng da sống căng trên thân một cây đàn luưt tỳ bà da ngực th́ hơn kém có h́nh vuông; da phủ cả hai cánh tay lại có h́nh một miếng da sống căng trên một cái bao đựng tên; da trên ḷng bàn tay có h́nh dáng một chiếc hôp đựng dao cạo hay h́nh dáng một túi đựng lược, da trên những ngón tay có h́nh dáng một hộp đựng ch́a khoá; da trên cổ có h́nh dáng một chiếc khăn quàng cổ; da trên mặt có h́nh dáng một cái tổ của những con sâu bướm đầy lỗ; da ở đầu có h́nh dáng một cái túi đựng b́nh bát. Thiền sinh là người quan tâm đến da nên hướng nhận thức của ḿnh về thịt và da, và bắt đầu với môi trên. Người này nên định nghĩa rơ phần nội biểu b́ da mặt trước; rồi đến phần da phủ trên đầu, đến phần da phủ phía sau cổ, [63] tiếp theo đó là phần da cánh tay bên phải cả phần trước và phần sau, rồi cánh tay bên trái cả trước lẫn sau cũng giống như vậy. Rồi sau đó đến da trên lưng rồi da trên mông rồi đến da chân phải phía trước và phía sau. [rồi đến da trên chân trái cũng giống như vậy], rồi đến những phần da nơi những chỗ kín, da bụng, ngực; và phía trước cổ, và rồi đến da ở hàm dưới, cho đến khi người đó quay trở lại nghiền ngẫm về phần da môi trên. [46] Người đó sẽ định nghĩa theo phương hướng như ta thấy được nơi hai hướng’ và xác định vị trí như thể: ‘da là phần bao bọc toàn thể h́nh dạng thân thể con người.’ Và ở đây, giống như một chiếc hộp được bao phủ bởi miếng da ướt. Phần da ướt này không ư thức được ǵ hết, ‘tôi bao bọc một chiếc hộp.’ Ngay cả chiếc hộp cũng không hay biết, ‘ da ướt đang bao bọc tôi.’ Thân xác này bao gồm các Sắc Tứ Đại hiển [gồm chất cứng, chất kết dính, nhiệt độ, và chuyển động] được tôi bao bọc.’ Ngay cả sắc thân này gồm có bốn Sắc Tứ Đại hiểu cũng không hay biết ‘tôi được da bao bọc.’ V́ đây chỉ là những pháp không liên quan và duyệt xét lẫn nhau, những phần da này. . . . đâu phải là một con người, mà chỉ là
“Đây chỉ là một khối u có chín khiếu Ngài lại định nghĩa da bằng cách phân định ranh giới như sau: ‘Được phân định ranh giới giữa phần thịt hay phần bề mặt của thịt gắn trên đó, và phía trên phần thịt đó là lớp biểu b́, được phân định bằng những phần tương đồng như vậy, nhưng với cách phân định khác biệt ta cũng áp dụng cùng một phương pháp phân định như tóc trên đầu vậy. Đây cũng là cách người định nghĩa về da theo màu sắc và những ǵ c̣n lại. 20. (6) Tiếp theo sau đó ngài định nghĩa đến thịt. Thịt được phân thành chín trăm miếng trong thân trên cơ thể con người. Nhận định theo màu sắc “thịt có mầu đỏ” giống như màu sắc của loài hoa pālibaddhaka’.Theo h́nh dáng Ngài định nghĩa như sau: ‘thịt có nhiều h́nh dáng rất đa dạng; v́ về điểm này, thịt của bắp chân có h́nh dáng như cơm đựng trong một túi đan lá dừa – một số người cho là ‘thịt có dạng một búp chồi ketakī chưa hé nở.” – phần thịt đùi có h́nh dạng như một chiếc cán bột làm bánh để ép chanh; thịt mông có h́nh dáng phần chóp chiếc ḷ nướng bánh; phần thịt lưng có h́nh dáng những phiến đường táng thốt nốt; phần thịt ở hai bên sườn có h́nh dáng một cục vữa đất xét được gắn [64] lên khe hở trên khung tre làm tường nhà, phần thịt ở ngực có h́nh dáng một cục đất xét ướt tṛn đầu [65] và treo rủ xuống; phần thịt trên hai cánh tay có h́nh dáng giống như một con chuột to cắt hết đuôi, đầu và chân và lột hết da.- có người lại gọi đây là h́nh dạng một chiếc xúc xích thịt [66]; thịt ở hai bên má [67] có h́nh dáng một hạt cây karanja được dán trên má [68], có người cho là thịt má có h́nh chiếc lá nuhi [69]-; phần thịt mũi có dạng một chiếc lá cuốn lại và được đặt ngược xuống; thịt ở hai ổ mắt có dạng một nửa quả vải; thịt đầu có h́nh dạng một vết dầu bôi trên một chiếc b́nh bát lào ḷ để nướng. [70] [47] Khi ớn khi đưa người thiền sinh phân định rơ ràng được thịt, th́ chỉ có những miếng thịt thô này cần được định nghĩa bằng h́nh dạng; và khi người này định nghĩa thịt như vậy th́ những miếng thịt tinh tế sẽ xuất hiện nơi tầm trí tuệ nữa. Ngài lại định nghĩa thịt qua phương hướng như ‘thịt được thấy ở hai bên phương hướng’ và vị trí thịt được trét lên vào hơn ba trăm khúc xương. Về điểm này, giống như một tường nhà được trét lên một lớp vữa đất sét dầy. Lớp đất sét dầy đó đâu có biết được điều ǵ. ‘người ta dùng vôi để trét lên tường;’ bứt tường cũng không biết “tôi được biết một lớp đất sét dầy cũng vậy thịt gồm có chín trăm miếng không biết” ba trăm khúc xương được tôi bao phũ cũng vậy, ba trăm khúc xương được trét lên với hàng trăm miếng thịt như vậy cũng không hay biết, ‘người ta phủ lên chúng tôi bằng chín trăm miếng thịt.” V́ đây chỉ là những pháp không có liên quan và suy xét chung với nhau. v́ chúng đâu có phải là ...con người, nhưng chỉ:
là xác súc vật trát lên một ít thịt Ngài lại phân định ranh giới như sau: mỗi miếng thịt lại được phân định ranh giới qua một bộ xương hay bề mặt thịt được gắn lên đó. Mặt trước, và chung quanh có da bao bọc. Đây là cách định nghĩa theo cách tương đồng. Nhưng định nghĩa theo khác biệt cũng giống như cách ta đă định nghĩa tóc trên đầu vậy.’Đấy chính là cách ngài định nghĩa thịt về màu sắc và những điều c̣n lại. 21. (7) Tiếp theo đó ngài định nghĩa về gân, gồm tới chín trăm sợi dây gắn trên một bộ (xương) thân xác, gân có mầu ‘trắng,’ Có người cho là gân có mầu ‘nước mật’ – và xét theo h́nh dáng ‘gân có nhiều h́nh dáng rất đa dạng’; và ở đây sợi gân lớn nhất có h́nh dáng những cây củ từ leo, c̣n loại nhỏ hơn có h́nh dáng những sợi dây trên chiếc rọ bằng lưới bắt lợn rừng và những sợi gân nhỏ hơn lại có h́nh dáng một loại cây leo. Cũng c̣n có những sợi nhỏ hơn, h́nh dáng lại giống như những sợi dây trên chiếc đàn luưt do người Sinhale sử dụng. Những chiếc gân nhỏ hơn lại có h́nh một loại chỉ thô. Những sợi gân trên mu bàn tay và mu bàn chân có h́nh dáng những chiếc móng chim. Những sợi gân trên đầu [48] có h́nh dạng một chiếc lưới h́nh chéo làm bằng sợi dukūla; những đứa trẻ trong làng thường đan lại để đội trên đầu. Những sợi gân trên lưng có h́nh dáng một chiếc lưới ướt được trải ra dưới ánh mặt trời. Số gân c̣n lại được trải trên các chi trên cơ thể ta có h́nh dạng một lưới áo giáp được xếp trên khung thân thể chúng ta.’ Ngài định nghĩa gân theo phương hướng như: ‘Gân được trải đều theo hai hướng’ như sau “Trong số những chiếc gân này, có năm sợi to ta gọi là ‘dây chằng’ bắt đầu từ phần dưới tai phải phủ xuống tới tận phía sau một phần bên trái; rồi cũng có năm sợi chạy từ phần dưới tai trái chạy từ phía trước ra phía sau bên phải, và rồi lại c̣n có năm sợi bắt đầu từ phía phải cổ chạy sang phía trước và phía sau cột dính với phía trái; và có năm sợi bắt đầu từ phía trái cổ chạy sang phía trước và phía sau cột dính với phía phải. Rồi cũng c̣n mười sợi như vậy được gọi là ‘dây chằng’ toả xuống để cột lại phần tay phải, năm sợi chạy về phía trước và năm sợi về phía sau. Cũng giống như vậy đối với cánh tay bên trái, với chân phải và chân trái. V́ thế cho nên sáu mươi sợi gân to này là những ‘nâng đỡ cho thân thể hay ‘hướng dẫn cho thân thể .’ Ngài cũng định nghĩa gân theo vị trí như: ‘Gân được thấy có mặt trên toàn bộ thân thể giữa xương và da và giữa xương và thịt, gắn liền các xương lại và trong đó giống như những chiếc cột tường được các cây leo mọc lên chằng chịt. Những chiếc sợi dây leo ḅ này không biết được những chiếc cột tường được chúng tôi cột lại với nhau, những chiếc cọc tường cũng không hay biết; ‘chúng ta được các sợi dây leo cột lại với nhau. Cũng vậy những sợi gân đâu có biết, ‘chúng ta đang cột ba trăm chiếc xương lại với nhau.” cũng thế ba trăm chiếc xương cũng không biết, “chúng ta được cột lại với nhau bằng những sợi gân đâu”. V́ đây chỉ là những pháp không có khả năng suy xét và duyệt lại do thiếu liên quan lẫn nhau. Gân đâu phải là một con người, nhưng chỉ là
Chín trăm sợi gân bọc quanh tất cả. Ngài định nghĩa theo phân định như sau: “chúng được phân định ở phía dưới là ba trăm khúc xương hay từ bề mặt được gắn vào đó. Phía trên là da và thịt bao quanh, đây là cách phân định theo cách tương đồng với nhau. Nhưng phần phân định theo khác biệt cũng tương tự như phân định tóc trên đầu vậy. Đây chính là cách định nghĩa phần gân [49] bằng màu sắc và những ǵ c̣n lại. 22. (8) Phần tiếp theo là định nghĩa về xương. Giờ đây bỏ qua 32 xương răng đă được đề cập đến một cách riêng rẽ (§18), có tới 64 chiếc xương tay trong phần thân thể , 64 xương chân. 64 xương mềm mại này phụ thuộc vào phần thịt. Hai xương gót chân, rồi ở mỗi chân; hai xương mắt cá chân, hai xương ống quyển, một xương đầu gối; một xương đùi; hai xương hông, mười tám đốt xương sống. 24 xương sườn. 14 xương ngực; một xương ức, hai xương cổ, hai xương chả vai, hai xương phần trên cánh tay, hai đôi xương phần dưới cánh tay [71], 7 xương cổ, hai xương hàm, một xương mũi; một xương trán, 9 xương sọ, v.v... Ngài định nghĩa tất cả các loại xương này có mầu ‘trắng’ và theo h́nh dáng: ‘xương có nhiều h́nh dáng khác nhau;’v́ ở đây những xương đốt ngón chân có h́nh dạng như các hạt kataka; những xương kế tiếp ở đoạn giữa lại có h́nh như những hạt mít; những xương ở đoạn cuối có h́nh như những chiếc trống nhỏ – một số người nói chúng có h́nh dáng như màu con công. [72] Xương bàn chân lại có h́nh dạng như là một chùm củ từ; xương gót chân có h́nh dạng hạt cây thốt nốt; xương mắt cá chân có h́nh dáng như hai trái banh nhỏ úp lại với nhau; các xương ống chân, nhỏ có h́nh dạng một cây que h́nh cung, trong khi đó xương to hơn lại có h́nh như lưng con rắn săn chuột. [73] teo lại do bị đói và khát. Vị trí của xương ống chân lại nằm trên xương mắt cá chân, có h́nh dạng như các cành khajjūrika c̣n non, vỏ được bóc hết. [74] Vị trí của xương ống chân được gắn trên xương đầu gối có h́nh đầu một chiếc trống nhỏ. C̣n xương đầu gối có h́nh dáng của một miếng bọt được ép xuống hai bên [75]. Xương đùi có h́nh dáng những chiếc cán ŕu hay lưỡi hái được gọt sơ sài [76]. Nơi xương đùi được gắn với xương hông có h́nh dáng như bó que sắt nung đỏ [77] của người kệ kim hoàn’ [50] vị trí xương này được gắn vào lại có h́nh một trái punnāga cắt một đầu. Hai xương chậu được gắn chặt lại với nhau có h́nh dáng một cái [78] ḷ của người kệ gốm. Xương mông có h́nh dáng một chiếc mũ chụp đầu rắn quay ngược lại. và được khoét tới bảy lỗ. Mười tám đốt xương sống ở bên trong có h́nh dáng những cuộn giấy than ch́, chiếc nọ chồng lên chiếc kia; bên ngoài có h́nh dáng một chuỗi hạt và mỗi đốt có hai hoặc ba chỗ nhô ra chồng lên nhau giống như răng cưa. Trong số 24 chiếc xương sườn, những chiếc xương hoàn chỉnh có h́nh dáng như những chiếc liềm sinhale không hoàn chỉnh [79] - một số người cho là toàn bộ những xương sườn này có h́nh dáng của một cặp cánh gà trống mầu trắng. – mười bốn xương ngực có h́nh dáng một hàng những phiến gỗ của chiếc chiến xa cổ. C̣n xương tim [80]có h́nh dáng như là ḷng một cái th́a bằng gỗ. Xương cổ có h́nh dáng một chiếc cán ŕu bằng kim loại. Chiếc xương ở phần dưới xương cổ có h́nh dáng nửa mặt trăng. Những chiếc xương đàng sau cánh tay (xương chậu vai) có h́nh dáng như những chiếc rừu – một số c̣n cho là chúng giống như h́nh dáng của chiếc cuốc đă ṃn hết một nửa, người Sinhale thường hay sử dụng. Xương phần trên cánh tay có h́nh dáng như chuôi của chiếc gương soi – một số lại cho là chúng có h́nh dáng chiếc chuôi cầm của một cái lưỡi hái to. Xương cánh tay có h́nh dáng như thân cây dừa sanh đôi. Xương cổ tay có h́nh dáng như cuộn giấy ch́ dính lại với nhau. Xương mu bàn tay có h́nh dáng như một chùm củ từ trải ra. Xương ngón tay phần cuối có h́nh dáng như chiếc trống nhỏ; phần giữa có h́nh dáng như hạt mít không hoàn chỉnh; và đốt xương cuối có h́nh dáng hạt quả kataka. Bảy đốt xương cổ có h́nh dáng những miếng [81] măng tre xâu lại với nhau trên một cái que. Phần xương hàm dưới có h́nh dáng chiếc búa sắt của người kệ rèn dính [82] lại với nhau. Xương hàm trên có h́nh dáng như một con dao nạo dừa. Xương hốc mắt và xương lỗ mũi có h́nh dáng như những hạt thốt nốt non đă khoét bỏ phần ruột. [51]. Phần xương trán có h́nh dáng như là một đĩa [83] vỏ x̣ bị bể úp lại. Xương vành tai (xương chũm sau mang tai) có h́nh dáng những chiếc hộp đựng dao cạo của kệ hớt tóc. Xương đỉnh đầu ở vị trí người ta cột khăn xếp có h́nh dáng như những miếng vỏ bánh đang trên chảo bánh sữa dê [84] làm đặc lại. xương chỏm đầu có h́nh dáng một quả dừa không cân (nghiêng sang một bên) có một lỗ ở phần cuối. Toàn bộ xương đầu (chung lại) có h́nh dáng những miếng vỏ trái bầu khô khâu lại với nhau. Về phương hướng các xương ngài định nghĩa như sau: ‘xương được t́m thấy khắp nơi trên thân thể ta. C̣n về vị trí ta thấy bừa băi nằm la liệt trên cấu trúc thân thể con người.’ Nhưng đặc biệt như sau: ‘xương đầu nằm trên xương cổ, cương cổ trên xương sống, xương sống nằm trên xương chậu, xương chậu lại nằm trên xương đùi, xương đùi năm trên xương đầu gối, đương đầu gối nằm trên xương ống khuyển, xương ống khuyển lại nằm trên xương mắt cá chân, xương mắt cá chân nằm trên xương bàn chân, và xương bàn chân th́ ôm lấy xương mắt cá, và xương mắt cá chân... xương cổ ôm lấy xương đầu; và những phần xương c̣n lại có thể hiểu một cách tương tự như vậy. Và ở đây, cũng giống như trường hợp một cấu trúc nhà gạch hay cấu trúc những chiếc đ̣n tay. v.v... những viên gạch ở phía trên, v.v... không ư thức (biết) được ‘chúng ta tựa trên cái ǵ ở phía dưới’ cũng vậy những viên gạch ở dưới không biết nốt. ‘chúng ta tựa lên trên ǵ ở phía trên ta.’ Cũng vậy, những chiếc xương đầu không hề biết “chúng ta ở lên trên xương cổ; xương mắt cá không hề biết “chúng ta ở trên xương lưng bàn chân cũng vậy những xương lưng, bàn chân chẳng biết được ‘chúng ta đang tựa lên trên xương mắt cá.’... v́ đây chỉ là những pháp không có ư thức hay duyệt xét lại lẫn nhau. chúng không phải là con người.... Thực tế đây chỉ là khoảng ba trăm khúc xương có lẻ được bó lại với nhau bằng những chín trăm sợi gân, trét lên với chín trăm miếng thịt bao bọc lại trong một chiếc áo [85] da, được làm ẩm do hơi ẩm chạy xuyên suốt hơn bảy trăm đường dẫn được kích hoạt, [toàn bộ] được làm ẩm do những hạt mồ hôi thoát ra từ khoảng 99.000 lỗ chân lông. Và trú ở vào khoảng tám mươi bộ tộc sâu bọ; và những thứ này được coi như là một ‘thân thể’ trong đó người tu thiền, t́m thấy theo ư muốn như là bản chất thực sự của mỗi cá nhân. Không có điều ǵ đáng được chấp lấy. Mà chỉ là một bộ xương được răng lại với nhau do những sợi gân và được hoà trộn lại với nhau bằng một loạt những mùi hôi thối’ [52] nhận ra điều này [như thực sự như vậy.] ngài chiếm được hiện trạng của một người con của Đấng thập lực. Như người ta đă nói trong bài kệ sau đây về thân xác chỉ đơn giản như sau]
Xương cơ thể xếp theo thứ tự có sẵn. Về cách phân định ranh giới xương ngài định nghĩa như sau: ‘[mỗi chiếc xương] được phân định ở bên trong có tuỷ xương ở phần trên là thịt và phần cuối hay phần gốc mỗi chiếc xương được định nghĩa theo cách tương tự như nhau; nhưng cách phân định theo khác biệt cũng tương tự như cách ta đă phân định ở phần nói về tóc trên đầu vậy. v.v... chính v́ thế người đă định nghĩa xương theo mầu sắc và các điều c̣n lại. 23. (9) Tiếp theo sau đây ta định nghĩa về tuỷ xương. Tuỷ xương nằm trong thân thể bên trong những chiếc xương được sắp xếp theo cách đă được khẳng định ở trên, màu sắc của tuỷ xương là mầu “trắng”. Ngài định nghĩa tuỷ theo h́nh dáng như sau: tuỷ xương có h́nh dáng như thể tích phần xương tuỷ xương nằm ở bên trong. Có nghĩa là tuỷ xương được đựng bên trong xương lớn nhất có h́nh dáng như những chồi mía đường xoắn quện lại với nhau như trong một đoạn [87] ống tre. Phần tuỷ có trong những đoạn xương nhỏ hơn cũng có h́nh dáng như những chồi mía đường được sôi lên có kích cỡ thích hợp như những đoạn ống tre; Ngài định nghĩa tủy xương theo phương hướng như sau: tủy xương nằm ở khắp các vị trí’ c̣n về vị trí được thiết lập bên trong xương. Và từ đây giống như một cục sữa đông và mật đường bên trong những chiếc ống tre, v.v...cục sửa đông không thể biết được ‘chúng ta nằm bên trong ống tre, v.v... và cả những ống tre đó cũng không biết, ‘cục sữa đông và mật đường nằm bên trong chúng ta,’v.v... cũng vậy, tủy xương cũng không biết được ‘tôi nằm bên trong xương’ cũng như xương cũng chẳng có thể biết ‘tủy xương nằm bên trong chúng tôi,’ v́ đây chỉ là những pháp không có liên quan và duyệt xét lại lẫn nhau, chúng đâu có phải là . . .con người.’ Ngài định nghĩa tuỷ xương theo cách phân định ranh giới như sau: tuỷ xương được phân định nằm bên trong xương [53] và tương tự với tuỷ xương. Đây là cách định ranh giới thông qua những ǵ giống nhau. Nhưng cách phân ranh giới bằng khác biệt cũng giống như ta đă phân định với tóc trên đầu vậy v.v... đây là điều ngài định nghĩa tuỷ xương theo màu sắc và những ǵ c̣n lại. 24. (10) Tiếp theo đó chúng ta định nghĩa thận: thận được phân loại thành hai quả [thịt] nằm bên trong thân thể, có mầu là ‘mầu đỏ xẫm’ màu của các hạt pālibhaddaka’, về h́nh dáng ngài định nghĩa như sau; thận có h́nh dáng giống quả bóng các trai làng thường chơi - một số người cho là chúng có h́nh dáng như hai quả soài trên cùng một chùm.- ‘về phương hướng chúng được thấy hướng thượng và về vị trí ta thấy chúng nằm ở hai bên thịt tim, được cột lại với hai sợi gân rất chắc xuất phát từ một gốc xuống đến phía dưới th́ tách thành hai. Về điểm này, giống như một cặp quả soài được cột lại thành một chùm không ư thức được, ‘tôi phải cột lại thành một chùm với nhau,’ cũng như chùm soài đó không biết. ‘hai quả soài được chúng tôi cột lại với nhau.’ Cũng như thế, trái thận cũng không biết, ‘tôi được buộc với một sợi gân rất chắc’ sợi gân cũng không biết “ quả thận được tôi cột chặt v́ đây chỉ là những ư tưởng thiếu suy xét và quan tâm đến nhau, chúng không phải là . . . một con người.’ Ngài định nghĩa bằng cách phân định ranh giới, như sau thận được phân định bằng cách tương đ | |