|
Bản Pāli ngữ:
Bhadantācariya Buddhaghosa PL. 2551 - DL.2007 |
||
|
|
[01] CHÚ GIẢI CHƯƠNG I Đoạn I - NHẬP ĐỀ
1. [11] Con xin Quy y Đức Phật (Đấng Giác Ngộ), Con xin Quy y Giáo Pháp, Con xin Quy y Tăng Già: Lời khẳng định Quy y này là phần nhập đề Tiểu tụng. Giờ đây nhằm mục đích tiết lộ, chú giải và biểu lộ ư nghĩa bằng cách đưa ra một bài chú giải Tiểu tụng để minh hoạ ư nghĩa tuyệt đối (pāramattha-jotikā) có một bài kệ như sau:
2. Con xin kính lễ Tam Bảo trước tiên 3. Ở đây, như đă đề cập đến ở trên, ‘Rồi thực hiện đôi ba ḍng chú giải, tập Tiểu tụng đầy cao siêu. Do vậy tôi sẽ thực hiện một bài chú giải trước tiên sau khi đă định nghĩa Tiểu tụng là ǵ. 4. Tiểu tụng (Khuddakāni) là một phần trong tuyển tập Tiểu tụng (Khuddaka-Nikaya). Có năm bộ Kinh như sau:
Trường Bộ, Trung Bộ và Tương Ưng Bộ Kinh 5. [12] Trong toàn bộ năm Bộ Kinh này có tới 34 kinh mà ta gọi là Kinh khởi đầu với Phạm Vơng Kinh (Brahmajala) là Trường Bộ Kinh (Dighā-Nikāya), 152 kinh bắt đầu với Kinh Mūlapariyāya có tên là Trung bộ Kinh (Majjhima- Nikaya), 7762 kinh bắt đầu với Kinh Oghatarana là Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta-Nikaya), 9557 bài Kinh bắt đầu với Kinh Cittapariyādānasutta là Tăng Chi Bộ Kinh và một tuyển tập Tiểu tụng (Khuddaka-Nikaya) gồm những Phật Ngôn không gồm trong bốn Bộ Kinh trên. Ư muốn nói đến Tiểu Tụng (Khuddakhapatha) Pháp Cú (Dhamapada) Phật Tự Thuyết (Udana) Như thị thuyết (Itivuttaka) và Kinh tập (Suttanipata) Thiên Cung Sự (Vimānavatthu) Ngạ Quỉ Sự (Petavatthu), Trưởng Lăo Tăng Kệ (Therāgātha) Trưởng Lăo Ni Kệ (Therigāthā) Kinh Bổn Sanh (Jātaka) Xiển Minh (Niddisa) Vô Ngại Giải Đạo (Patisambhidāmagga) Thí dụ Kinh (Apadāna), Phật Tông (Buddhavamsa) Hạnh Tạng (Cariyāpitaka) Tạng Luật (Vinaya-Pitaka) Tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma-Pitaka) [4]. 6. Tại sao ta lại gọi tuyển tập này là Tiểu tụng? V́ tuyển tập này là một đống và chỗ đựng (home) rất nhiều cành nhánh Chân Đế (Dhamma) chính v́ điều đó ta gọi là một đống và chỗ đựng nên được gọi là bộ Kinh (Collection – Nikayas) trược bố trí theo ngữ pháp trong cả hai tuyển tập này theo điều được cho là Giáo pháp, cụ thể như, “Hỡi chư vị Tỳ khưu, ta chẳng thấy có bộ Kinh nào duy nhất lại đa dạng như những vật có hơi kệ đó là súc sanh”, (S. iii. 152) và theo như những ǵ đề cập đến trong thế giới phi Phật giáo cụ thể là “Ponikinkāyo Cikkhallikanikāyo” [5] 7. Một phần tuyển tập Tiểu tụng chính là các cuốn Tiểu tụng này, được gộp lại trong Kinh tạng và ở đây chúng tôi muốn tiết lộ, chú giải và phô bày. Trong số các tập Tiểu bộ kinh lại có cuốn gọi là Tiểu Tụng là tập đầu tiên, và gồm có chín thành phần cấu thành cuốn này đó là: Tam Quy, Thập Giới, Ba Mươi Hai Thể, Nam Tử Hỏi Đạo, Kinh Điềm Lành, Kinh Châu Báu, Kinh Ngoài Bức Tường, Kinh Bảo Tàng, Kinh Ḷng Từ. Nhưng Kinh này chỉ là bắt đầu theo như ‘Lối đi’ đối với một loạt những Kinh Tụng thuộc Tam Tạng Kinh được soạn thảo do ḍng các vị đạo sư trước đó, chứ không theo thứ tự những ǵ do chính miệng Đức Phật dạy ra. 8. Những ǵ [thực sự được ngài phán đầu tiên] chính là:
T́m song chẳng thấy người xây cất,
[13] Ôi vị xây cất, hiện người đă bị thấy; Và cặp kệ này chính là khởi điểm toàn bộ những ǵ Đức Phật đă dạy; nhưng ngài chỉ nghĩ trong tâm mà thôi mà không thốt ra lời [6]. Tuy nhiên, câu tiếp theo lại là những ǵ ngài nói ra bằng lời:
Khi tâm đă lộ nguyên h́nh
-ooOoo-
[1] Tiểu tụng (Khuddakāni) [2]. Đoạn abodhentena sāsanam được dịch tuỳ tiện thành’đối với người không…phải là chuyển giao Giáo pháp’ nhưng hiểu theo nghĩa đen có nghĩa là ‘không phải do người tạo ra việc phát hiện ra Giáo pháp Bodhento là động tự tạo nguyên nhân Bodhiti ‘tạo giác ngộ cho người khác (xem §18) trong đoạn này Đức Phật được gọi là bodheta) và đây là nhiệm vụ của chư Phật và của các Anubuddhas’ (xem Ch.vi, n.31). Câu này nên được hiểu như là một người không công nhận ḿnh đă đắc chứng chánh đạo(xin đọc câu ước mong vào cuối Thanh Tịnh Đạo) và không phải là một sự thú nhận vô khả năng trong kiến thức (xem những t́nh cảm tương tự như vậy trong Thanh Tịnh Đạo Ch. xvii §25’tr. 522-3) [3]. Xin xem Thanh Tịnh Đạo Ch. xvii, §§25-6/tr.522-3 [4] . Đối với việc sắp xếp Kinh thành năm bộ thay v́ thành ba (Tam Tạng) bằng cách để Luật Tông (Vinaya) và Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) vào Tiểu tụng xin đọc e,g. DhsA. 26 và DA. I. 15,23 [5] Xin đọc Pānini và Kāsikā iii 3, 31 những bài chú giải về Sāratthandipani tập Ponikas và Cikkhallikas là những Chiến Binh (khattiya) và nhóm của họ (Nikayas) được gọi là Ponika và Cikkhallikas, "thế gian" trong văn cảnh này được gọi là các vị chuyên viên ngữ pháp ngoài phật giáo. Và các nhà lư luận. [6]. Vaci-bhela- là lời nói phán ra’ trong TỪ ĐIỂN PALI-ANH không thấy ghi; xin đọc danh sách các tù khó [7]. ‘Brahmana Bà la môn – Chư thiên’ đối với cách dịch này xin xem phần thảo luận ở phụ chương I
|
|